Đặc thù về điều kiện tự nhiên vùng trồng sâm Ngọc Linh

Đăng lúc: Thứ hai - 22/08/2011 09:37 - Người đăng bài viết: Trần Ngọc Hoàng

Căn cứ vào các tài liệu nghiên cứu về sâm Ngọc Linh cho thấy sâm Ngọc Linh phân bố trên vùng sinh thái hẹp, quanh đỉnh núi Ngọc Linh, dưới các tán rừng nguyên sinh thuộc địa phận của 3 huyện là Trà My của tỉnh Quảng Nam, Đắk Glei và Tu Mơ Rông của tỉnh Kon Tum. Vùng sinh trưởng và phát triển của sâm Ngọc Linh nằm hoàn toàn trên dãy núi Ngọc Linh, có tọa độ địa lý trong khoảng từ 14O 44’ đến 15O 13’ vĩ độ Bắc và từ 107O 45’ đến 108O 10’ kinh độ Đông, đây cũng là giới hạn xa nhất về phía Nam (trong khoảng 15O vĩ Bắc) của bản đồ phân bố chi Panax L. trên Thế giới. Bởi vì, hai loại sâm cùng họ với sâm Ngọc Linh là sâm Triều Tiên và sâm Trung Quốc đều sinh trưởng và phát triển ở vùng ôn đới và hàn đới, từ 23O vĩ độ Bắc trở lên, chỉ riêng sâm Ngọc Linh là sinh trưởng và phát triển ở vùng khí hậu nhiệt đới. Đây chính là một tính đặc thù tạo ra đặc trưng riêng biệt của sâm Ngọc Linh.

1. Đặc điểm địa hình, địa mạo:

Vùng sâm Ngọc Linh sinh sống chủ yếu phân bố ở các xã vùng núi cao thuộc khối núi Ngọc Linh thuộc hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam. Khối núi Ngọc Linh là khối núi cao thứ hai tại Việt Nam, là một phần của Nam Trường Sơn. Khối núi này nằm trên phần cao nguyên phía Bắc Tây Nguyên, Việt Nam, tại địa phận các tỉnh Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai. Khối núi này chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam bắt đầu với ngọn núi Ngọk Lum Heo, núi Mường Hoong, Ngọc Linh, Ngọc Krinh, Ngọk Tem, Ngọk Roo với độ cao trung bình khoảng 800 - 2.600 m. Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Ngọc Linh (2.598 m), Ngọk Tu Măng (1.994 m), Ngọk Puôk (2.370 m), Ngọk Păng (2.378 m). Khối núi Ngọc Linh có độ phân cách mạnh, độ dốc lớn, có nhiều thung lũng hẹp và sâu.

Căn cứ vào đặc điểm phân bố, cây sâm Ngọc Linh sinh sống từ đới độ cao 1.800 m trở lên, nơi có mật độ che phủ rừng trên 80 %, cây sâm sinh trưởng và phát triển tốt. Tiến hành xử lý thống kê trên bản đồ độ cao đã xác định được đặc thù về độ cao của vùng nghiên cứu là từ 1.800 m đến 2.500 m.

2. Đặc điểm địa chất:

Trong vùng sâm sinh trưởng :

* Giới Paleoproterozoi - Mesoproterozoi - Phức hệ Ngọc Linh: Phức hệ được đặt tên theo đỉnh Ngọc Linh, nơi mà các thành tạo đá biến chất tướng amphibolit của phức hệ lộ ra rộng rãi. Tại khu vực nghiên cứu xuất hiện hai hệ tầng là hệ tầng sông Re và hệ tầng Tắc Pỏ, chiếm khoảng 80 % diện lộ của huyện Tu Mơ Rông.

- Hệ tầng Tắc Pỏ - PR1 - 2tp: Là một hệ tầng của loạt Ngọc Linh. Mặt cắt ở trung lưu sông Đăk Mi kéo dài xuống Trà Linh, Trà Nam của huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam. Thành phần bao gồm: (i) đá phiến gneis-biotit, đá phiến biotit-silimanit-granat, thấu kính amphibolit, độ cao trung bình 1.500 m; (ii) đá phiến biotit, đá phiến thạch anh-felspat-biotit, quarzit, độ cao trung bình 2.000 m; (iii) đá phiến biotit-borblenđ, đá phiến biotit, đá hoa và calciphyr, độ cao trung bình 400 m; (iv) gneis, gneis biotit, migmatit biotit-granat, độ cao trung bình 1.000 m.

- Hệ tầng sông Re - PR1 - sr: Tại mặt cắt lộ diện xuất hiện các tập đá sau: (i) Gneis và plagiogneis biotit-horblenđ, các lớp mỏng hay thấu kính amphibolit, đá phiến thạch anh-felspat-biotit; (ii) gneis biotit-horblenđ, các lớp mỏng đá phiến thạch anh -biotit-amphibol; (iii) gneis biotit, đá phiến thạch anh-felspat-biotit-horblenđ. Bề dày chung của hệ tầng > 3.000 m. Hiện nay ranh giới dưới của hệ tầng vẫn chưa xác định rõ còn ranh giới trên là các tập đá phiến của hệ tầng Tắc Pỏ. Các đá của hệ tầng có nguồn gốc trầm tích biển, lục nguyên - núi lửa. Biến chất khu vực tướng amphibolit.

* Các thành tạo macma: Chủ yếu là phức hệ sông Re (g1sr) với các khối lộ ra từ vài chục đến hàng trăm km2, trong đó gồm nhiều thể nhỏ granitogneis dạng kéo dài, dạng thấu kính, dạng vỉa xen trong các tập đá biến chất. Trong phạm vi khối còn gặp plagiogranitogneis hạt vừa - nhỏ phổ biến dưới dạng đai mạch, thấu kính, kích thước thay đổi và có quan hệ với các thành tạo granit migmatit không rõ ràng, các đá mạch phổ biến là aplit và pegmatoidd. Ranh giới tiếp xúc giữa chúng có khi rõ ràng, có khi chuyển tiếp. Ngoài phức hệ sông Re, tại khu vực nghiên cứu còn có các thành tạo magma của phức hệ Chu Lai-Ba Tơ (g2cb); phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn (d14 - g14bq).

* Các thành tạo núi lửa mafic (N, QIV): Các thành tạo này chủ yếu thuộc phần trên cùng (QIV), các bazan trẻ tạo thành dòng bazantoit, limburgit phủ trực tiếp trên các bazan trước. Tại đây các đá trầm tích Jura bị bazan nung nóng và vụn nát chứa thân, rễ và cây đã hóa đá. Đặc trưng cho bazan QII - IV là tính phân dị cao, từ sẫm màu đến sáng màu vừa, tổng kiềm cao (natri trội hơn kali), quá thiếu silic. Chúng phủ trên các trầm tích bở rời tuổi QI - III cũng như các bậc thềm II - III và sông suối hiện đại, nên có khả năng là loại bazan trẻ nhất.

Tóm lại, chính do thành phần đá mẹ chủ yếu là các đá siêu biến chất hạt mịn và các phun trào mafic, nên đây là thành phần chính của nền đá mẹ hình thành nên đất feralit đỏ vàng tại đây. Dưới điều kiện nhiệt đới ẩm, đồng thời mẫu chất chủ yếu là các đá siêu biến chất dễ bị phong hóa và rất giàu nhôm là Amphibolit, Gnai (bao gồm các khoáng vật giàu nhôm như Octoclaz - KAlSi3O8 và Topaz Al2[SiO4](F,OH)2) xen kẽ với thạch anh và mica trên núi cao nên trong đất khá giàu các mảnh thạch anh hạt nhỏ và mica mịn, đặc biệt là các nguyên tố dễ bị rửa trôi như nhôm, sắt vẫn còn được giữ lại khá nhiều trong đất nên khiến cho đất thường có màu vàng đặc trưng và thường bị chua.

3. Đặc điểm sông ngòi, thủy văn:

Vùng phân bố sâm Ngọc Linh với độ cao trên 1.800 m, có hệ thống rừng tự nhiên che phủ lớn, đặc biệt là tầng thảm mục dày chính là nơi lưu trữ và phát xuất nguồn nước cho các con sông, suối lớn trong vùng. Trong vùng trồng sâm chỉ có hệ thống các con suối nhỏ đổ vào và các hệ thống sông lớn như: Lưu vực sông Đăk Psi nằm trong địa bàn huyện Tu Mơ Rông có diện tích lớn nhất tập trung ở phía Đông - Nam huyện; gồm các hệ thống suối như: Suối nước Chim, suối Đăk PSi, suối Đăk Lây, suối Đăk Ter, suối Đăk Xe,... Lưu vực sông Đăk Tờ Kan thuộc địa bàn huyện Tu Mơ Rông chủ yếu ở phía Tây - Nam của huyện. Các suối thuộc lưu vực sông Pô Kô phân bố chủ yếu ở phía Tây - Bắc huyện. Ngoài ra trong vùng còn có các suối đầu nguồn chảy ra phía Bắc của khối núi Ngọc Linh đổ vào các sông như Vu Gia, sông Thu Bồn thuộc tỉnh Quảng Nam, sông Trà Khúc thuộc tỉnh Quảng Ngãi,... Nhìn chung, vùng trồng sâm Ngọc Linh tuy không có các hệ thống các suối lớn, nhưng lại có hệ số che phủ và hệ tầng thảm mục dày đã tạo cho vùng có độ ẩm cao, khả năng giữ nước tốt rất phù hợp với yêu cầu sinh thái của cây sâm Ngọc Linh.

4. Đặc điểm khí hậu:

Ngọc Linh là khối núi cao vì thế, đây chính là nơi giao thoa của hai khối không khí, gồm: Khối không khí gió mùa Đông Bắc và khối không khí Tây Nam. Ngoài ra, với các đặc thù về độ cao, mật độ che phủ cao,... đã tạo ra vùng khí hậu Á nhiệt đới rất phù hợp với yêu cầu về sinh thái của sâm Ngọc Linh. Điều kiện khí hậu của vùng này có những đặc điểm khác biệt rất lớn so với các vùng xung quanh, như: lượng mưa lớn, độ ẩm cao, lượng bốc hơi thấp, nhiệt độ thấp,...

4.1. Lượng mưa:

Chế độ mưa của có sâm Ngọc Linh phụ thuộc vào ảnh hưởng của 2 khối không khí. Lượng mưa từ tháng Năm cho đến tháng Mười là do tác động của gió mùa Tây Nam mang lại và từ tháng Mười Một đến tháng Tư năm sau do tác động trực tiếp của gió mùa Đông Bắc. Sườn phía Đông Bắc (vùng núi cao của huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam) lượng mưa tập trung cao, với lượng mưa bình quân đạt từ 2.800 - 3.200 mm; đối với sườn Tây Nam lượng mưa thấp hơn ở sườn Đông với tổng lượng mưa trung bình năm đạt từ 2.600 - 2.800 mm. Vùng trồng sâm Ngọc Linh có tổng lượng mưa trung bình năm đạt từ 2.600 - 3.200 mm.

Lượng mưa trong năm tập trung chủ yếu từ tháng Sáu đến tháng Chín, trong thời gian này lượng mưa chiếm khoảng 65 - 70 % tổng lượng mưa cả năm. Các tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng Mười Hai, tháng Một, tháng Hai. Khi nghiên cứu đời sống cây sâm, sau thời kỳ ngủ Đông (sau tháng Mười Hai) cây bắt đầu phát triển và từ tháng Tư đến tháng Sáu cây ra hoa và kết quả, tháng Bảy bắt đầu có quả chín và kéo dài đến tháng Chín. Như vậy, việc phân bố về lượng mưa trong năm là tương đối phù hợp với các thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây sâm Ngọc Linh. Cuối tháng 10, phần thân khí sinh cây sâm Ngọc Linh tàn lụi dần, lá rụng, để lại một vết sẹo ở đầu củ sâm và cây bắt đầu giai đoạn ngủ đông hết tháng Mười Hai, đây cũng là giai đoạn bắt đầu vào mùa khô, lớp mùn bắt đầu thoát nước, thuận lợi cho việc tích trữ các nguyên sinh chất trong củ sâm, không gây bệnh thối vàng củ sâm do độ ẩm gây nên.

4.2. Nhiệt độ:

Nhìn chung, nhiệt độ có chiều giảm dần từ Nam ra Bắc, từ Đông sang Tây, phụ thuộc nhiều vào độ cao, các mùa trong năm,... Mặc dù vùng trồng sâm Ngọc Linh nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu nhưng do phân bố ở độ cao trên 1.800 m nên nền nhiệt độ trung bình có giá trị thấp hơn rất nhiều so với các vùng khác ở dưới thấp.

Kết quả phân tích, xử lý sự biến thiên theo không gian và độ cao của yếu tố nhiệt độ của các trạm cho thấy nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất đạt dưới 10 OC; nhiệt độ trung bình tháng cao nhất khoảng 20 OC. Tổng lượng nhiệt cả năm đạt dưới 7.500 OC. Nhiệt độ tại khu vực phía Tây Nam cao hơn khu vực Đông Bắc, phổ biến từ 2 - 4OC. Nhiệt độ không khí đạt thấp nhất vào tháng Mười Hai, tháng Một, đạt cao nhất vào tháng Tư, tháng Năm. Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 15,0 - 18,5 OC. Tháng Mười Hai đến tháng Một năm sau có nhiệt độ thấp nhất, trung bình khoảng 8 - 11 OC, có những năm nền nhiệt độ tối thấp dao động từ 5,5 - 8,5 OC. Tháng Tư, tháng Năm có nhiệt độ cao nhất, trung bình khoảng 22 - 23 OC. Các tiêu chuẩn nhiệt độ trung bình, tối cao, tối thấp và diễn biến nhiệt độ các tháng đều thích hợp với yêu cầu của cây sâm. Tại các thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây sâm nhiệt độ trung bình khoảng 18 OC, đây là ngưỡng nhiệt độ thích hợp với cây sâm. Theo nhiều nghiên cứu ngưỡng thích hợp về nhiệt độ cho sâm là ban ngày từ 20 - 23 OC và ban đêm từ 15 - 18 OC.  Kết quả quan trắc cho thấy biên độ nhiệt giữa ngày và đêm tại vùng trồng sâm là từ 8 - 9 OC, cũng là một yếu tố rất phù hợp với sinh trưởng của cây sâm. Khi so sánh với các yêu cầu sinh thái, có thể thấy rằng không có tháng nào trong năm có nhiệt độ trung bình lớn hơn 23 OC, chứng tỏ yếu tố nhiệt độ tại các vùng này thích hợp cao đối với cây sâm.

4.3. Độ ẩm:

Độ ẩm tương đối biến đổi theo thời gian rõ rệt hơn không gian, vừa có biến đổi tuần hoàn theo ngày, theo năm vừa biến đổi từ năm này sang năm khác. Độ ẩm tại vùng trồng sâm cao hơn các vùng khác, với độ ẩm trung bình hàng năm đạt từ 86 - 87 %, tháng cao nhất (tháng Tám) đạt 94 - 95 %. Nguyên nhân do phân bố trên độ cao, mật độ che phủ cao, nền nhiệt độ thấp, lượng mưa cao, đồng thời thường xuyên bị che phủ của các đám mây mù mang hơi ẩm đã tạo nên độ ẩm cao cho vùng này. Độ ẩm trung bình năm của vùng phát triển sâm khoảng 85,5 - 87,5 %, sự chênh lệch độ ẩm giữa các tháng là khá lớn, dao động từ 5 - 7 %. Độ ẩm tương đối có cực trị như sau: độ ẩm cực đại thường xuất hiện từ tháng Bảy đến tháng Chín với khoảng từ 89 - 94 % và độ ẩm cực tiểu thường xuất hiện từ tháng Mười Một đến tháng Năm năm sau, nhưng đạt thấp nhất là từ tháng Hai đến tháng Tư với khoảng từ 77 - 82 %; trong khi tại các vùng xung quanh có độ ẩm trung bình từ 85 - 89 % vào mùa ẩm cao và từ 76 - 82 % vào mùa ẩm thấp. Thời kỳ có độ ẩm cao trùng thời kỳ hoạt động của gió mùa Tây Nam trong mùa mưa và thời kỳ có độ ẩm thấp trùng với thời kỳ hoạt động của gió mùa Đông Bắc trong mùa khô.

Nhìn chung, độ ẩm không khí của vùng sâm khá thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây sâm. Trong mùa mưa, lượng ẩm tăng cao, tao điều kiện thuận lợi trong thời kỳ cây sâm sinh trưởng, phát triển thân lá và hoa, đến tháng Mười độ ẩm bắt đầu giảm dần cũng chính là thời kỳ củ sâm phát triển, trùng với thời kỳ cây sâm bắt đầu vào giai đoạn ngủ đông.

4.4. Lượng bốc hơi:

Tại vùng trồng sâm Ngọc Linh có lượng bốc hơi thấp hơn so với các vùng khác. Vùng trồng sâm có tổng lượng bốc hơi trung bình năm từ 670 - 800 mm, còn ở các vùng khác dưới thấp từ 850 - 1.000 mm. Vì lượng bốc hơi có xu hướng giảm dần theo hướng Đông - Tây và Nam - Bắc. Lượng bốc hơi cực đại là vào tháng Tư đến tháng Sáu (³ 75 mm) và cực tiểu vào tháng Tám đến tháng Mười (≤ 30 mm).

Vùng trồng sâm lượng bốc hơi thấp hơn so với các vùng khác trong tỉnh. Tổng lượng bốc hơi trung bình năm từ 670 - 770 mm. Lượng bốc hơi có xu hướng giảm dần theo hướng Đông - Tây và Nam - Bắc. Giá trị cực đại của lượng bốc hơi là vào tháng Ba và tháng Tư (trung bình đạt 85 mm) và cực tiểu vào tháng Tám (trung bình 40 mm). Như vậy, so với yêu cầu về lượng ẩm cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển thì lượng bốc hơi thấp của vùng là một yếu tố rất thuận lợi cho sự tăng sinh khối và hình thành chất lượng sâm.

5. Đặc điểm hiện trạng thảm thực vật:

Khí hậu của khối núi Ngọc Linh mang nhiều nét đặc thù riêng biệt, từ khí hậu nhiệt đới ẩm đến khí hậu á nhiệt đới vùng núi cao, ngoài ra, khối núi Ngọc Linh có địa hình phức tạp, phân cách mạnh, nhiều vùng núi cao hiểm trở và các thung lũng hẹp sâu do vậy quần thể thực vật cũng rất phong phú và bao gồm nhiều chủng loại khác nhau. Các vùng thấp chủ yếu là kiểu rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới. Kiểu rừng này thành phần phức tạp, rừng cây rậm rạp, nhiều tầng, chủ yếu là rừng kín lá rộng. Càng lên cao thì càng đặc trưng cho kiểu rừng á nhiệt đới với loại rừng kín lá rộng và lá kim.

Đối với vùng trồng sâm Ngọc Linh chủ yếu là vùng rừng tự nhiên, với rừng lá rộng thường xanh, tre nứa và lá kim. Đây là một trong những vùng còn nhiều rừng tự nhiên với nhiều chủng loại gỗ và động vật quý hiếm, cần được bảo vệ và khai thác có hiệu quả. Ngoài trữ lượng gỗ, rừng còn có nhiều lâm đặc sản dưới tán rừng quý hiếm và có giá trị như trầm hương, song mây,... và đặc biệt là các loại cây dược liệu như: sâm Ngọc Linh, sơn tra, ngũ vị tử, hồng đẳng sâm,...

Che bóng là yêu cầu bắt buộc đối với cây sâm Ngọc Linh vì là loại cây ưa bóng và thường sinh trưởng và phát triển dưới các tán rừng kín thường xanh cây lá rộng đôi khi xen cả cây lá kim với độ che phủ đạt trên 80 %. Qua các tài liệu và kết quả điều tra nhận thấy vùng trồng sâm Ngọc Linh hầu hết đều năm trong vành đai rừng phòng hộ (được hiểu là rừng nguyên sinh) của cả hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam cùng với mức độ ảnh hưởng của con người chưa nhiều nên đã tạo ra tầng mùn dưới các thảm mục dày rất phù hợp với sinh trưởng và phát triển của cây sâm Ngọc Linh.

* Nhận xét chung về một số điều kiện tự nhiên vùng trồng sâm Ngọc Linh:

Qua việc phân tích các tài liệu thu thập, kết quả điều tra và xử lý số liệu cho thấy vùng sâm Ngọc Linh có các điều kiện đặc thù chủ yếu như sau:

- Sâm Ngọc Linh phân bố từ 14O 44’ đến 15O 13’ vĩ độ Bắc và từ 107O 45’ đến 108O 10’ kinh độ Đông, nằm toàn bộ trên khối núi Ngọc Linh ở độ cao từ 1.800 m đến 2.500 m.  

- Vùng sâm Ngọc Linh có các đặc điểm khí hậu đặc thù như sau:

+ Tổng lượng mưa trung bình năm của vùng sâm là từ 2.600 - 3.200 mm.

+ Nhiệt độ trung bình năm dao động từ 15,0 - 18,5 O C.

+ Tổng lượng bốc hơi trung bình năm từ 670 - 770 mm.

+ Độ ẩm trung bình từ 85,5 - 87,5 %.

- Vùng sâm Ngọc Linh hầu hết nằm trong các đai rừng phòng hộ với mật độ che phủ đạt trên 80 %.

6. Đặc điểm thổ nhưỡng đất trồng sâm Ngọc Linh:

Xã Măng Ri và Ngọc Lây là hai xã vùng núi cao nằm ở phía Bắc của huyện Tu Mơ Rông, thuộc sườn Nam của khối núi Ngọc Linh, nơi khởi nguồn của cây sâm Ngọc Linh tự nhiên được tìm thấy. Tổng diện tích tự nhiên toàn vùng nghiên cứu là 14.037,10 ha; trong đó xã Măng Ri là 4.595,3 ha và xã Ngọc Lây là 9.441,8 ha.

6.1. Kết quả xây dựng bản đồ đất vùng sâm Ngọc Linh:

6.1.1. Những nghiên cứu về đất trước đây trên địa bàn vùng nghiên cứu:

Bản đồ thổ nhưỡng mới nhất của vùng nghiên cứu đến nay là bản đồ đất tỉnh Kon Tum tỷ lệ 1/25.000 được xây dựng bổ sung năm 1990, theo đó trên địa bàn vùng nghiên cứu có những loại đất sau: Đất phù sa suối (Py); Đất nâu đỏ trên bazan (Fk); Đất đỏ vàng trên đá gnai (Fm); Đất đỏ vàng trên đá phiến sét (Fs); Đất mùn đỏ vàng trên đá biến chất (Hs); Đất mùn đỏ vàng trên đá bazan (Hk); Đất dốc tụ thung lũng (D).

6.1.2. Kết quả điều tra, phân loại và xây dựng bản đồ đất vùng sâm Ngọc Linh:

Trong quá trình thực hiện dự án, căn cứ vào bản đồ địa hình, kết quả điều tra khảo sát sơ bộ thực trạng vùng sâm tự nhiên và sâm trồng, đã tiến hành điều tra lấy 200 phẫu diện đất trên diện tích khoảng hơn 3.000 ha thuộc 2 xã Măng Ri và Ngọc Lây, trong đó:   20 PD chính có phân tích mẫu đất theo tầng phát sinh và 180 PD chính không phân tích.

Kết quả phân loại cho thấy vùng nghiên cứu thuộc 1 Nhóm đất chính, 1 Đơn vị đất, 3 Đơn vị đất phụ theo chỉ tiêu phân cấp của FAO-UNESCO-WRB, nhóm nghiên cứu tiến hành xây dựng bảng phân loại đất cho vùng nghiên cứu như Bảng 2.2.

Bảng 2.2. Bảng phân loại và chú dẫn bản đồ đất vùng sâm thuộc vùng nghiên cứu.

Ký hiệu

Tên đất

Diện tích, (ha)

Tỷ lệ,

(%)

FAO-UNESCO-WRB

VIỆT NAM

1.AChu.vt

Veti- Humic Acrisol

Đất xám giàu mùn, nghèo bazơ

1.618,18

49,16

2.AChu.le2

Endolepti- Humic Acrisol

Đất xám giàu mùn, tầng đá sâu

1.187,04

36,06

3.AChu.al

Alumi- Humic Acrisol

Đất xám giàu mùn, tích nhôm

486,37

14,78

Tổng diện tích điều tra:

3.291,59

100,00

2.3.1.3. Mô tả tính chất thổ nhưỡng thuộc vùng nghiên cứu:

Đất hầu hết có thành phần cơ giới trung bình đến nặng, tầng mặt TPCG thường là thịt pha sét và cát, ở các tầng dưới thành phần cơ giới thường là thịt pha sét. Tỷ lệ cấp hạt sét thường dao động trong khoảng 24 - 34 %; cấp hạt thịt thường từ 9 - 12 %; còn lại là cấp hạt cát. Dung trọng và tỷ trọng của đất tầng mặt điển hình cho đất giàu hữu cơ, ở các tầng dưới thì đất hơi chặt; dung trọng đất tầng mặt dao động từ 0,67 - 0,72 g/cm3, tỷ trọng đất tầng mặt dao động từ 1,97 - 2,09 g/cm3. Đất tầng mặt khá rỗng, độ xốp tầng mặt dao động trong khoảng 64 - 67 %; ở các tầng dưới đất chặt hơn độ xốp chỉ dao động từ 47 - 50 %. Tầng mặt đất ẩm, độ ẩm đất dao động từ 18 - 23 %.

Đất có phản ứng chua đến rất chua, pHH2O từ 3,9 - 4,5 và pHKCl từ 3,3 - 3,9. Tầng mặt đất rất giàu hữu cơ, hàm lượng cacbon hữu cơ tầng mặt dao động trong khoảng 6,70 - 8,04 %OC, hữu cơ tại đây chủ yếu là hữu cơ nhuyễn, tầng mặt quá trình mùn hóa sảy ra mạnh hơn quá trình khoáng hóa với tỷ lệ C/N dao động trong khoảng 15 - 22. Đạm tổng số tầng mặt rất giàu, dao động trong khoảng 0,32 - 0,49 %N. Hàm lượng lân tổng số ở mức trung bình đến khá, song lân dễ tiêu ở mức rất nghèo, bình quân tầng mặt dao động trong khoảng 0,07 - 0,12 %P2O5 và 0,39 - 0,84 mgP2O5/100g đất. Ngược lại với lân, kali tổng số rất nghèo trong khi kali dễ tiêu lại ở mức trung bình đến khá, hàm lượng kali tổng số dao động trong khoảng 0,21 - 0,39 %K2O và kali dễ tiêu dao động trong khoảng 13,89 - 21,63 mgK2O/100g đất. Dung tích hấp thu trong đất tầng mặt ở mức thấp đến trung bình, dao động trong khoảng 8,06 - 11,86 meq/100g đất. Mức độ bão hòa bazơ ở mức rất thấp đến thấp, dao động trong khoảng 10 - 13 %.

Bảng 2.3. Một số tính chất lý hóa học cơ bản của đất thuộc vùng nghiên cứu

TT

Ký hiệu

loại đất

Dung trọng, g/cm3

Tỷ trọng, g/cm3

Độ

xốp,

%

Độ

ẩm,

%

Độ chua

Hàm lượng tổng số, %

Dễ tiêu, mg/100g

pHH2O

pHKCl

OC

N

P2O5

K2O

P2O5

K2O

1

AChu.vt

0,69

2,04

66,1

19,0

3,9

3,1

7,46

0,45

0,09

0,28

0,38

18,51

2

AChu.le2

0,71

1,98

64,1

18,6

4,2

3,4

6,82

0,43

0,08

0,34

0,35

18,01

3

AChu.al

0,70

1,99

65,1

18,9

4,0

3,2

6,92

0,48

0,11

0,42

0,34

22,50

6.2. Đặc thù về thổ nhưỡng của đất trồng sâm Ngọc Linh:

Đặc thù của các tính chất đất vùng nghiên cứu được xác định thông qua các phép toán thống kê. Từ các kết quả điều tra cho thấy tầng đất mặt được hình thành bởi lớp phủ xác thực vật là chủ yếu. Độ dày tầng đất mặt ở mỗi vùng là khác nhau, tuy nhiên sự khác nhau là không nhiều. Kết quả xử lý thống kê cho thấy độ dày của lớp đất mặt của đất vùng nghiên cứu trong khoảng 18 - 20 cm.

Bảng 2.5. Giá trị đặc thù của các tính chất lý hóa học trong đất vùng nghiên cứu

Chỉ tiêu

phân tích

Đơn vị

Giá trị đặc thù

Xác suất mật độ khoảng biến động

Ngư­ỡng d­ưới

Ngư­ỡng trên

1. Dung trọng

g/cm3

                0,67

               0,72

0,75

2. Tỷ trọng

g/cm3

                1,93

               2,10

0,68

3. Độ xốp

%

              63,9

             67,1

0,67

4. Độ ẩm

%

              17,7

             22,6

0,69

5. Cát

%

              57,4

             68,6

0,69

6. Thịt

%

                7,1

             11,6

0,67

7. Sét

%

              22,4

             33,0

0,68

8. OC

%

                6,39

               8,16

0,70

9. N

%

                0,33

               0,50

0,70

10. P2O5 tổng số

%

                0,08

               0,11

0,63

11. K2O tổng số

%

                0,21

               0,42

0,68

12. P2O5 dễ tiêu

mg/100g đất

                0,29

               0,59

0,72

13. K2O dễ tiêu

mg/100g đất

              15,41

             26,22

0,68

14. pHH2O

 

                3,8

               4,4

0,68

15. pHKCl

 

                3,3

               3,8

0,71

16. Tổng cation

meq/100g đất

                0,90

               1,61

0,68

17. CEC đất

meq/100g đất

                8,20

             15,73

0,69

18. BS

%

                8,7

             15,8

0,77

19. Độ chua trao đổi

meq/100g đất

                0,32

               1,29

0,66

* Nhận xét chung về đặc thù thổ nhưỡng vùng sâm Ngọc Linh:

Qua kết quả điều tra thực địa, kết quả phân tích, thống kê và xử lý dữ liệu vùng đất sâm Ngọc Linh có những đặc thù rõ nét như sau:

- Từ trước đây cho đến bây giờ, cả sâm tự nhiên và sâm trồng đều chỉ sinh trưởng và phát triển dưới các tán rừng nguyên sinh, nơi có thảm mục dày. Do đặc tính sinh thái của củ sâm Ngọc Linh chỉ mọc trên tầng thảm mục mà không mọc dưới đất, nên những vùng có tầng thảm mục dày là nơi có điều kiện lý tưởng cho cây sâm sinh trưởng và phát triển. Dưới các tán rừng nguyên sinh cũng tạo lên các điều kiện về độ ẩm đất phù hợp cho cây sâm sinh trưởng, phát triển.

- Các tính chất lý, hóa học của đất vùng nghiên cứu cho thấy khá phù hợp với các yêu cầu về sinh lý, sinh thái của cây sâm Ngọc Linh. Các số liệu thống kê về dinh dưỡng đất ở trên cho thấy rõ điều này; đặc biệt là chỉ tiêu về hàm lượng cacbon hữu cơ tầng mặt rất cao (hay nói cách khác là hàm lượng mùn cao), và độ dày của tầng mặt chủ yếu là lớp mùn nhuyễn đủ đảm bảo độ dày cho củ sâm phát triển thuận lợi.

 

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Hợp tác phát triển và các nỗ lực bảo tồn

Hợp tác phát triển và các nỗ lực bảo tồn       - Bảo tồn thiên nhiên và môi trường.       - Phát triển cộng đồng.       - Có định hướng rõ ràng về hướng dẫn sử dụng an toàn, bền vững. ...

Danh mục tin mới

Hỗ trợ online

          1. Trần Ngọc Hoàng

Cellphone:      0913.455.099

Web: www.samngoclinh.com

          2. Lê Tùng Cương

Đăng nhập