Khôi phục, phát triển cây sâm Ngọc Linh ở Kon Tum

Đăng lúc: Thứ hai - 22/08/2011 10:02 - Người đăng bài viết: Trần Ngọc Hoàng
Khôi phục, phát triển cây sâm Ngọc Linh ở Kon Tum

Khôi phục, phát triển cây sâm Ngọc Linh ở Kon Tum

Cây sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv) là một cây đặc hữu của vùng núi Ngọc Linh, lần đầu tiên được phát hiện ở tỉnh Kon Tum vào năm 1973. Đây là loài sâm cùng họ Araliaceae , cùng chi Panax với sâm Triều Tiên. Theo đánh giá của các nhà khoa học thì cây sâm Ngọc Linh là một loài sâm quý trong số 19 loài sâm đã phát hiện trên thế giới, có thành phần hoá học và giá trị trị liệu ngang với sâm Triều Tiên (Panax ginseng C.A Meyer), sâm Mỹ (Panax quinquefolius), sâm Nhật (Panax japonicus)

KHÔI PHỤC, PHÁT TRIỂN CÂY SÂM NGỌC LINH Ở KON TUM:

HIỆN TRẠNG  VÀ GIẢI PHÁP.

I. MỞ ĐẦU.

Cây sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv) là một cây đặc hữu của vùng núi Ngọc Linh, lần đầu tiên được phát hiện ở tỉnh Kon Tum vào năm 1973. Đây là loài sâm cùng họ Araliaceae , cùng chi Panax với sâm Triều Tiên. Theo đánh giá của các nhà khoa học thì cây sâm Ngọc Linh là một loài sâm quý trong số 19 loài sâm đã phát hiện trên thế giới, có thành phần hoá học và giá trị trị liệu ngang với sâm Triều Tiên (Panax ginseng C.A Meyer), sâm Mỹ (Panax quinquefolius), sâm Nhật (Panax japonicus)

Sâm Ngọc linh trong tự nhiên phân bố chủ yếu xung quanh vùng núi Ngọc Linh (thuộc tỉnh Kon Tum và Quảng Nam) có độ cao từ 1500m trở lên. Đây là một loài thực vật quý hiếm rất có giá trị về mặt y dược, kinh tế và nghiên cứu khoa học. Từ lâu các đồng bào dân tộc thiểu số quanh vùng đã xem cây sâm như một loài thuốc “giấu”, dùng để trị bệnh tật và bồi bổ cơ thể mỗi khi đau ốm hay bị suy nhược. Về giá trị kinh tế, có thể nói sâm Ngọc Linh là loài cây “độc nhất vô nhị” của Việt Nam và chỉ phát triển thích hợp tại vùng rừng núi Ngọc Linh; là loài sâm có giá trị kinh tế cao. Từ khi đoàn điều tra dược liệu của Ban dân y khu 5 phát hiện (năm 1973) đến nay đã có nhiều cơ quan nghiên cứu, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước tiến hành nghiên cứu về thành phần loài, đặc điểm thực vật học, sự phân bố, đặc tính sinh thái sinh trưởng và phát triển, thành phần hoá học, tác dụng dược lý, kỹ thuật nhân giống, di thực và trồng cây sâm Ngọc Linh. Trong đó có nhiều nhà khoa học đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ của mình từ các công trình nghiên cứu về loài cây quý hiếm này. Tuy nhiên, cây sâm Ngọc Linh trong tự nhiên hầu như đã bị khai thác cạn kiệt và có nguy cơ tuyệt chủng, là một loài thực vật nằm trong danh mục sách đỏ Việt Nam cấm khai thác. Mặt khác, do điều kiện phân bó hép, điều kiện sống khá đặc biệt nên rất khó trồng và phổ biến một cách rộng rãi. Cây tự nhiên sinh trưởng và phát triển rất chậm (thường sau 5 – 7 năm trồng mới có thể khai thác sản phẩm). Vì vậy, việc bảo tồn và phát triển loài thực vật quý hiếm này đã đặt ra nhiều vấn đề đáng quan tâm đối với các nhà khoa học và các nhà quản lý. Đây là nhiệm vụ vừa quan trọng, vừa cấp bách, có ý nghĩa đặc biệt về mặt kinh tế, xã hội và đa dạng sinh học.

II. KẾT QUẢ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN CÂY SÂM NGỌC LINH TẠI KON TUM

Bằng cách nào đó để đưa cây sâm Ngọc Linh thoát khỏi nguy cơ tuyệt chủng cà biến nó trở thành cây hàng hoá có lợi thế cạnh tranh cao nhằm góp phần xoá đói giảm nghèo, từng bước nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc khu vực vùng núo Ngọc Linh đang là vấn đề bức xúc hiện nay. Nhận thức được điều này, trong thời gian qua được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh Ủy, UBND tỉnh Kon Tum, sự phối hợp thực hiện của Viện Dược liệu – Bộ Y tế, Huyện ủy và UBND huyện Đăk Tô, Lâm trường Ngọc Linh và các sở Ban, Ngành chức năng trong tỉnh nên công tác nghiên cứu, đầu tư bảo tồn và phát triển cây Sâm Ngọc Linh bước đầu thu được một số kết quả ban đầu.

1. Chính sách đối với đồng bào sinh sống tại vùng sâm.

Từ năm 1997, Tỉnh Uỷ và UBND tỉnh Kon Tum đã tổ chức hội thảo về cây sâm. Qua hội thảo đã đề ra những định hướng phát triển loài dược liệu quý hiếm này. Để thực hiện được mục tiêu đó, thời gian qua các cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm đến đời sống của đồng bào các dân tộc cư trú tại vùng có cây Sâm. Thông qua các chương trình, dự án đã giao đất khoán rừng, tuyên truyền về giá trị của cây sâm. Từ đó nâng cao nhận thức cho đồng bào tại vùng sâm. hạn chế khai thác sâm bừa bãi và làm cho người dân có ý thức bảo vệ và phát triển nguồn dược liệu quý này. Đến nay, trong nhân dân đã có những chuyển biến trong nhận thức và ở một số hộ gia đình đã bắt đầu đưa cây sâm vào trồng để phucj vụ cho khai thác.

Bước đầu các chủ đầu tư đã giao cho các thôn, làng tự quản các khu vực có sâm tự nhiên để nâng cao trách nhiệm bảo vệ cây sâm đến từng người dân.

2. Bảo vệ và phát triển mới diện tích sâm.

* Diện tích sâm do dân đầu tư.

Theo số liệu báo cáo của Lâm trường Ngọc Linh thì diện tích dân tự đầu tư trồng mới từ năm 1995 đến nay tại thôn Lạc Bông, xã Ngọc Lây, huyện Đăk Tô là 0,4 ha. Tuy diện tích trồng chư lớn, nhưng qua đó cho thấy người dân ở đây đã ý thức được vị trí của cây sâm trong phát triển kinh tế hộ.

* Diện tích sâm do các đơn vị Nhà nước đầu tư.

- Từ tháng 3/1997 đến tháng 5/1998 có 3 đơn vị đầu tư phát triển cây Sâm Ngọc Linh trên địa bàn xã Măng Xăng (nay tách thành xã T-Xăng và xã Măng Ri) là Công ty Dược phẩm và Đầu tư thiết bị y tế, Lâm trường Ngọc Linh, Sở KHCN&MT. Tổng diện tích là 6.153m2, trong đó:

+ Sâm trồng trên vùng sinh trưởng tự nhiên:

Công ty Dược  - Vật tư thiết bị y tế tỉnh đã đầu tư trồng 2.638m2 (nay thuộc Lâm trường Ngọc Linh quản lý)

Phân bố như sau:

Chốt 1 (Làng Trung Tam):                  275 m2

Chốt 2 (Làng Long Láy):                    74 m2

Chốt 3 (Làng Long Hy):                      981 m2

Chốt 4 (Làng Ngọc La):                      1.308 m2

+ Sâm trồng bán tự nhiên:

Diện tích là 2.400 m2 , do Sở KHCN&MT đầu tư, Lâm trường Ngọc Linh quản lý, trồng tại khu vực làng Đăk Dơn.

+ Sâm di thực: 3.515 m2, trong đó:

Công ty Dược đầu tư quản lý:

Vườn di thực 1:               437 m2

Vườn di thực 2:               2078m2

Sở KHCN&MT đầu tư:

Vườn di thực 3:               1.000m2

- Từ 1999 – 2001, Lâm trường Ngọc Linh đã đầu tư trồng mới tại chốt 3 với diện tích là 6.904 m2 trong đó:

Vườn 1:       2494m2

Vườn 2:       2760 m2

Vườn 3:       1650 m2

Từ tháng 4/2001 Sở KHCN&MT Kon Tum đã phối hợp với Viện Dược liệu – Bộ Y tế, Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội, Lâm trường Ngọc Linh triển khai thực hiện dự án “ Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ sản xuất giống, kỹ thuật trồng và quy hoạch phát triển cây sâm K5 tại Kon Tum”. Dự án được triển khai ở giai đoạn 1 từ năm 2001 – 2004. Mục tiêu của dự án là tập trung nghiên cứu phương pháp nhân giống hiệu quả nhất, hình thành vườn Sâm giống từ 1,5 – 2,0 ha cho hạt mỗi năm đạt 15 – 20 kg tương đương 300.000 – 400.000 cây sâm con; nghiên cứu và hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng sâm bán tự nhiên, phát triển mô hình đến các hộ nông dân, đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa, từng bước nghiên cứu trồng sâm ở mô hình trang trại để đưa nhanh sản lượng sâm Ngọc Linh đến giai đoạn 2 (2005 - 2020) Kon Tum có tối thiểu 10 – 15 ha cây Sâm ở cả 3 mô hình. Qua hai năm thực hiện, dự án đã triển khai gieo trồng trên diện tích 5759m2 , với trên 26.000 cây sâm giống. Trong đó:

Vườn 1:       1955 m2

Vườn 2:       1804 m2

Vườn 3:       3000 m2

Dự án cũng đã triển khai tập huấn kỹ thuật trồng và cấp 7.550 cây sâm giống cho 24 hộ thuộc thôn Lac Bông, xã Ngọc Ley trồng thử và triển khai nhân rộng.

Qua theo dõi cho thấy cây Sâm trồng bước đầu thích hợp với điều kiện sinh thái tự nhiên, cây sinh trưởng và phát triển tốt, 86,6% số cây đã đâm chồi mới và phát triển thành tán, số cây chết ở một tỷ lệ rất thấp, có một số cây (2 – 5%) đã ra hoa ở năm đầu.

Đến thời điểm này, vườn sâm giống còn lại tập trung chủ yếu ở chốt 3 ở độ cao 1900 – 2000m, thuộc xã Măng Ri, huyện Đăk Tô, với diện tích gần 1,3 ha đang được đầu tư phục vụ cung cấp giống để phát triển diện tích sâm.

* Đánh giá chung:

Trong thời gian qua, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng tỉnh Kon Tum đã có những đầu tư ban đầu cho công tác bảo tồn và phát triển cây sâm Ngọc Linh. Đặc bệt, có sự giúp đỡ của Viện Dược liệu và Trung tâm trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội, bước đầu chúng tôi đã khôi phục vườn sâm giống có khả năng cung cấp giống cho mở rộng qui mô trong thời gian tới. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà đến nay diện tích Sâm được trồng vẫn đang còn khiêm tốn.

Mô hình trồng sâm trên vùng sinh trưởng tự nhiên và bán tự nhiên cho thấy cây sâm sinh trưởng và phát triển tốt, đầu tư ít, có nhiều khả năng mang lại hiệu quả kinh tế cao. Sâm giống được giao cho từng hộ gia đình trồng, chăm sóc và quản lý bước đầu đã phát huy được tinh thần trách nhiệm của từng hộ. Tuy nhiên, cần tiếp tục đầu tư giống cũng như hướng dẫn kỹ thuật trồng cho đồng bảo để phát triển cây này. Đây là mô hình nếu được đầu tư thoả đáng và được hương dẫn cụ thể thường xuyên về kỹ thuật sẽ mang lại hiệu quả thiết thực, làm tăng quy mô phát triển nguồn sâm.

Mặc dù đã có sự quan tâm nghiên cứu và phát triển cây sâm với quy mô lớn và có tính chiến lược của các ngành hữu quan, nhưng nhìn chung cây sâm Ngọc Linh chưa được đầu tư đúng mức và chưa có chính sách thoả đáng. Mặt khác, việc thay đổi các chủ đầu tư liên tục trong những năm qua ảnh hưởng rất lớn đến công tác đầu tư phát triển và quản lý vườn sâm. Chủ đầu tư chưa có biện pháp quản lý hữu hiệu, dẫn đến nguồn sâm quý bị thất thoát nhiều, diện tích và chữ lượng cây sâm bị giảm mạnh. Hiện tại không còn diện tích sâm tự nhiên mọc tập trung để bảo tồn nguồn dược liệu quý này.

Việc giao cho các làng tự quản lý có sự giám sát, kiểm tra của chủ đầu tư trong thời gian qua cho thấy hiệu quả còn thấp. Trước hết là do ý thức trách nhiệm của cộng đồng và do chưa đảm bảo lợi ích kinh tế thiết thực cho các hộ nhận bảo vệ (khu vực có sâm ở xa làng rất khó khăn trong khâu bảo vệ). Mặt khác, công tác kiểm tra, giám sát của cơ quan chủ đầu tư chưa thường xuyên.

Sâm di thực do Ban quản lý dự án trực tiếp tổ chức sản xuất mang tính thử nghiệm. Đây là hình thức trồng tập trung có mức độ thâm canh cao và thuận lợi cho công tác quản lý. Tuy nhiên, do thay đổi điều kiện sinh trưởng và phát triển, nên cây sâm sinh trưởng và phát triển chậm hơn.

III. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN CÂY SÂM NGỌC LINH ĐẾN NĂM 2010

1. Quan điểm

Bảo tồn và phát triển cây sâm Ngọc Linh đi đôi với việc bảo về và phát triển bền vững nguồn dược liệu quý hiếm trong vùng. Trồng và phát triển cây sâm Ngọc Linh chính là phát triển cây hàng hoá có giá trị kinh tế cao, có lợi thế so sánh tuyệt đối để góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, tiến tới là giầu, cải thiện và nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc địa phương, góp phần cho phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ an ninh quốc phòng trong vùng. Đồng thời, tạo vùng nguyên liệu phục vụ cho phát triển công nghiệp dược ở địa phương như Nghị quyết 04/NQ-TU của Tỉnh uỷ đã nêu.

2. Mục tiêu.

* Mục tiêu chung

Bảo tồn và phát triển nguồn sâm Ngọc Linh có giá trị. Phấn đấu đưa diện tích khoanh nuôi, bảo vệ lên đến 150 ha rừng có Sâm và diện tích trồng mới (chủ yếu trồng dưới tán rừng), quy diện tích tập trung khoảng 40 ha.

● Giai đoạn 2000 – 2005.

- Diện tích giao khoán bảo vệ: 150 ha rừng có phân bố của cây sâm tự nhiên.

- Hoàn thành cơ bản vườn sâm giống 2 ha để đưa vào sản xuất.

- Trồng mới: 5 ha (quy tập trung) dưới tán rừng.

● Giai đoạn 2005 – 2010.

- Tiếp tục công tác giao khoán bảo vệ 150 ha và xúc tiến tái sinh sâm tự nhiên.

- Trồng mới : 35 ha

3. Nội dung.

- Xây dựng các luận cứ khoa học cho việc nhân giống, phát triển và hoạch định các chính sách về công tác bảo tồn và phát triển cây sâm Ngọc linh trên địa bàn tỉnh Kon Tum.

- Khoanh nuôi, bảo vệ.

Tập trung điều tra, khoanh nuôi bảo vệ diện tích 150ha rừng có cây sâm phân bố. Đầu tư phát triển hợp lý diện tích sâm trồng mới nhằm bảo tồn nguồn dược liệu quý có ý nghĩa quan trọng về khoa học và kinh tế. Việc khoanh nuôi, bảo vệ gắn liền với chương trình giao khoán rừng cho dân để vừa bảo vệ, vừa phát triển cây sâm, tăng thu nhập cho người dân và giảm chi phí đầu tư.

- Trồng mới:

Phối hợp với các cơ quan khoa học trong và ngoài tỉnh tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy trình sản xuất cây sâm giống. Tập trung thành lập vườn sâm giống công nghệ khoảng 2ha có khả năng cung cấp giống để phát triển cây sâm trong vùng, phát triển trồng sâm trong hộ gia đình. Tiếp tục thử nghiệm trồng sâm di thực, trồng sâm trên vùng bán tự nhiên và tự nhiên khoảng 40 ha, để hoàn chỉnh quy trình kỹ thuật phổ biến sản xuất đại trà.

4. Giải pháp.

* Về cơ chế, chính sách.

Việc bảo tồn và phát triển sâm Ngọc Linh phải có cơ chế chính sách lâu dài về vốn đầu tư, về lồng ghép các chương trình trên địa bàn, khuyến khích cán bộ kỹ thuật về chính sách lấy ngắn nuôi dài và ưu đãi đối với người trồng sâm, chính sách tiêu thụ sản phẩm và chính sách KT-XH khác.

Chủ đầu tư có trách nhiệm nhận vốn và tổ chức sản xuất để phát triển cây sâm theo mục tiêu dự án đã đề ra. Sử dụng lao động thời vụ tại chỗ và chỉ đạo hướng dẫn kỹ thuật. Lâm trường phối hợp chặt chẽ với chính quyền các xã trong vùng sâm và UBND huyện Đăk Tô và Đăk Glei trong việc vận động đồng bào địa phương làm tốt công tác bảo vệ và phát triển diện tích trồng sâm.

- Chính sách đầu tư vốn:

+ Xem đầu tư cho cây sâm như đầu tư cho cây công nghiệp dài ngày.

+ Đầu tư qua chủ dự án và hỗ trợ đầu tư cho nhân dân bằng nguồn ngân sách của Nhà nước và các nguồn vốn quản lý bảo vệ rừng. Chương trình 120, xoá đói giảm nghèo … để đơn vị Nhà nước và nhân dân tham gia trồng sâm.

+ Nguồn vốn khoa học và các nguồn vốn khác.

+ Tăng cường hợp tác đầu tư với các tổ chức trong và ngoài nước.

- Chính sách ưu đãi đối với người trồng sâm.

+ Ưu tiên cho các hộ trồng sâm vay các nguồn vốn ưu đãi như vốn xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, …

+ Nhà nước cung cấp giống sâm, hướng dẫn kỹ thuật và hỗ trợ kinh phí, phương tiện sản xuất cho dân địa phương tham gia trồng sâm.

+ Đơn vị chuyên trách có trách nhiệm thu mua hạt giống sâm sau 3 năm trồng và củ sâm sau 5 – 6 năm trồng với giá bằng giá thị trường.

- Nghiên cứư chính sách tiêu thụ sản phẩm:

+ Nhà nước thu mua sản phẩm củ  sâm và giống sâm theo giá trị trường.

+ Trên cơ sở đảm bảo vùng nguyên liệu, Nhà nước đầu tư cho việc sơ chế và chế biến sâm để nâng cao giá trị thương phẩm, bảo đảm nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng sâm cũng như các đơn vị thu mua và chế biến sâm.

* Về tổ chức.

Thành lập Trại nghiên cứu và phát triển sâm Ngọc Linh trực thuộc Lâm trường Ngọc Linh. Có chức năng và nhiệm vụ chính là bảo tồn và phát triển cây sâm. Có như vậy mới nâng cao tính chuyên môn hoá, nâng cao hiệu quả của công việc.

IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

1. Kết luận.

Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã kết luận những giá trị to lớn mà cây sâm Việt Nam đem lại. tuy nhiên, nguồn tài nguyên này sẽ sớm cạn kiệt nếu chúng ta khai thác quá mức mà không có một chính sách đúng đắn cho một giải pháp bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu này. Đứng trước thực trạng đó, việc bảo vệ nguồn sâm Việt Nam tự nhiên và đẩy mạnh việc trồng trọt để mở rộng quy mô là hết sức quan trọng và cấp bách. Bởi nó là một loài sâm quý của thế giới, độc nhất vô nhị của nước ta, một tiềm năng kinh tế lớn của đất nước.

Trong thời gian qua, nhờ sự quan tâm và chỉ đạo chặt chẽ của các cấp Lãnh đạo, các Ban, Ngành trong tỉnh nên công tác bảo vệ nguồn sâm của tinh Kon Tum vẫn được duy trì tôt. Tuy nhiên, những gì chính ta đã làm được chỉ dừng lại ở công tác bảo tồn cây sâm để tránh nguy cơ tuyệt chủng. Một chiến lược cho việc phát triển và mở rộng nguồn sâm này đang đặt ra cho chúng ta nhiều vấn đề cần quan tâm.

Chúng tôi hy vọng trong thời gian tới, cùng với sự giúp đỡ của Trung ương, địa phương, các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học, cây sâm Việt Nam sẽ có vị trí trên thị trường Quốc tế. Làm tốt công tác bảo tồn và phát triển cây sâm náỹe góp phần mở ra những triển vọng to lới về phát triển kinh tế – xã hội tại địa bàn dân cư vùng núi Ngọc Linh; là cho cây sâm Việt Nam trở thành cây chủ lực trong công tác xoá đói giảm nghèo và làm giầu cho đồng bào các dân tộc đang cư trú trong vùng. Đồng thời, phục vụ cho công nghiệp chế biến dược và chăm sóc sức khoẻ ở địa phương. Bên cạnh đó, sự hiện diện của cây sâm Việt Nam trong quần thể thực vật dãy Ngọc Linh làm phong phú thêm tính đa dạng sinh học đặc thù vốn có của nó. Vì vậy, việc bảo tồn và phát triển cây sâm Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt, nó gắn liện với việc nâng cao đời sống cho người dân trong vùng căn cứ cách mạng, đồng thời góp phần bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn tài nguyên vô giá của tỉnh.

2. Kiến nghị.

Triển vọng giá trị cây sâm Việt Nam còn đi xa và cao hơn nhiều nếu chúng ta biết đầu tư và khai thác một cách hợp lý nguồn tài nguyên này. Việc này đòi hỏi sự quan tâm và đầu tư của nhà nước cho một chiến lược lâu dài để cây sâm Việt Nam để nó trở thành một cây có giá trị cao trên thị trường Quốc tế, một loài sâm thay thế nhân sâm tương ứng. Mặt khác, việc đầu tư không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn cây sâm mà phải có những chiến lược phát triển ở quy mô lớn như một số nứơc trồng sâm trên thế giới. Để làm được điều này thì  công tác điều tra, nghiên cứu, xây dựng các kỹ thuật nhân giống, trộng trọt, canh tác sao cho phù hợp là một yêu cầu rất bức xúc, nhất là trong thời điểm hiện nay.

Để giải quyết được các vấn đề trên chúng tôi có một số kiến nghị như sau:

- Các cấp uỷ Đảng và chính quyền ở địa phương cần có một quan điểm đúng đắn về việc đầu tư và phát triển loài cây hàng hoá có giá trị naỳ, để từ có những chính sách và giải pháp ưu tiên cho công tác bảo tồn và phát triển cây sâm Việt Nam.

- Cần sớm giao nhiệm vụ bảo tồn và phát triển cây sâm Việt Nam cho một đơn vị Nhà nước quản lý.

- Trước mắt cần tập trung đầu tư hình thành một vườn sâm giống công nghệ có khả năng cung cấp giống cho phát triển cây sâm trong vùng.

- Việc bảo tồn và phát triển cây sâm đi đôi việc nâng cao nhận thức của đồng bào các dân tộc quanh vùng. Hạn chế nạn khai thác nguồn sâm tự nhiên, phát triển và hình thành nghề trồng sâm cho nhân dân quanh vùng. Làm thế nào cho người dân thấy được lợi ích mà cây sâm đem lại. Để thực hiện điều đó chúng ta cần phải xây dựng các mô hình trồng sâm trong nhân dân, làm cho người dân ngày càng gắn bó với cây sâm và có ý thức bảo vệ nguồn dược liệu này, đồng thời thông qua đó để nhân rộng và mở rộng quy mô diện tích sâm, phát triển cây sâm trở thành cây là cây hàng hoá có giá trị cao.

- Để tăng cường tính hiệu quả của công tác bảo tồn và phát triển cây sâm đòi hỏi phải có sự giúp đỡ của các ban ngành Trung ương (đặc biệt là Bộ Y tế, Bộ Khoa học – Công nghệ, Bộ Kế hoạch đầu tư), các cơ quan khoa học chuyên ngành, đồng thời sự hợp tác với tỉnh Quảng Nam trong việc điều tra khoanh nuôi, bảo vệ, trồng và phát triển cây sâm Việt Nam.

Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

SAM NGOC LINH VIET NAM., JSC

CÔNG TY CỔ PHẦN SÂM NGỌC LINH VIỆT NAM SAM NGOC LINH VIET NAM JOINT STOCK COMPANY SAMNGOCLINH.COM   Mã số doanh nghiệp:    6 1 0 0 9 9 4 9 8 0 Địa chỉ 145 Nguyễn Trường Tộ, Phường Duy Tân, TP.Kon Tum, Tỉnh Kon Tum CÔNG TY HÀNG ĐẦU TRONG PHÂN...

Hỗ trợ online

          1. Trần Ngọc Hoàng

Cellphone:      0913.455.099

Web: www.samngoclinh.com

          2. Lê Tùng Cương

Đăng nhập