<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	
	xmlns:georss="http://www.georss.org/georss"
	xmlns:geo="http://www.w3.org/2003/01/geo/wgs84_pos#"
	>

<channel>
	<title>nhân sâm &#8211; Cafe Sâm Ngọc Linh</title>
	<atom:link href="https://samngoclinh.com/tu-khoa/nhan-sam/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://samngoclinh.com</link>
	<description>Cà phê đặc sản &#124; Specialty Coffee</description>
	<lastBuildDate>Tue, 08 Jun 2021 05:26:26 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	

<image>
	<url>https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/10/fav-100x100.png</url>
	<title>nhân sâm &#8211; Cafe Sâm Ngọc Linh</title>
	<link>https://samngoclinh.com</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
<site xmlns="com-wordpress:feed-additions:1">193957918</site>	<item>
		<title>Tác dụng của Sâm Ngọc Linh chống lại bệnh trầm cảm</title>
		<link>https://samngoclinh.com/tac-dung-cua-sam-ngoc-linh-chong-lai-benh-tram-cam/</link>
					<comments>https://samngoclinh.com/tac-dung-cua-sam-ngoc-linh-chong-lai-benh-tram-cam/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Café Sâm Ngọc Linh]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 08 Jun 2021 05:26:26 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Sâm Ngọc Linh]]></category>
		<category><![CDATA[cây họ thuốc]]></category>
		<category><![CDATA[nhân sâm]]></category>
		<category><![CDATA[sâm mỹ]]></category>
		<category><![CDATA[sâm ngọc linh]]></category>
		<category><![CDATA[sâm triều tiên]]></category>
		<category><![CDATA[sâm trung quốc]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://samngoclinh.com/?p=1422</guid>

					<description><![CDATA[Tác dụng của Sâm Ngọc Linh chống stress và tăng lực trong đó hoạt chất majonoside-R2 đã được xác định như một chất tác động chủ vận lên hệ thống GABA-A của hệ thần kinh TW để tham gia vào quá trình điều hòa những rối loạn gây bởi stress. Những công trình nghiên cứu...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Tác dụng của Sâm Ngọc Linh chống stress và tăng lực trong đó hoạt chất <a href="https://pubchem.ncbi.nlm.nih.gov/compound/Majonoside-R2" target="_blank" rel="noopener">majonoside-R2</a> đã được xác định như một chất tác động chủ vận lên hệ thống GABA-A của hệ thần kinh TW để tham gia vào quá trình điều hòa những rối loạn gây bởi stress.</strong></p>
<p>Những công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng Sâm Ngọc Linh Kon Tum Việt Nam là một loài đặc hữu của Việt Nam, có thể so sánh với các cây thuốc họ Nhân Sâm truyền thống như Sâm Triều Tiên, Sâm Mỹ, Sâm Trung Quốc [1, 2, 3, 4]. Bên cạnh việc nghiên cứu thân rễ và rễ củ được xem là bộ phận dùng chính, việc nghiên cứu phần thân khí sinh (lá và cọng thân) cũng đã được thực hiện gần đây với mục tiêu là tận dụng nguồn lá và cọng thân khi thu hoạch thân rễ và rễ củ.</p>
<h2>Thử nghiệm tác dụng chống trầm cảm trên lá sâm Ngọc Linh Kon Tum Việt Nam</h2>
<p>Cao lá <a href="https://samngoclinh.com/trong-sam-ngoc-linh-trong-20-ngay/">Sâm Ngọc Linh</a> ở các liều thử nghiệm 600, 1200 và 1800 mg/kg có tác dụng rút ngắn thời gian bất động của chuột so với lô chứng đạt ý nghĩa thống kê ở cả 2 khoảng thời gian: tức thời và sau 7 ngày dùng thuốc.<br />
Notoginsenoside-Fc ởø liều 5, 10 và 20 mg/kg làm rút ngắn thời gian bất động của chuột có so với lô chứng ở cả 2 khoảng thời gian: tức thời và sau 7 ngày dùng thuốc. Vậy hợp chất notoginsenoside-Fc, một saponin có hàm lượng cao trong lá Sâm Ngọc Linh, có thể là hợp chất quyết định tác dụng chống trầm cảm của cao lá Sâm Ngọc Linh.</p>
<h2>Tác dụng chống trầm cảm trên lá thân rễ Sâm Ngọc Linh Việt Nam</h2>
<p>Sâm Ngọc Linh được chứng minh có tác dụng chống trầm cảm ở liều uống một lần 200 mg/kg và liều 50-100 mg/kg khi được cho uống trong thời gian 7 ngày . Majonoside-R2 (3,1-12,5 mg/kg, liều tiêm phúc mô) cũng đã được chứng minh có tác dụng chống trầm cảm trên súc vật bình thường.</p>
<p>Stress cô lập trong thời gian 4 tuần làm gia tăng mức độ trầm cảm của súc vật thử nghiệm đạt ý nghĩa thống kê so với nhóm bình thường. Bột chiết Sâm Ngọc Linh (liều uống 100 mg/kg) thể hiện tác dụng ức chế sự gia tăng mức độ trầm cảm do stress cô lập của súc vật thử nghiệm đạt ý nghĩa thống kê, tương tự như Fluoxetine (Prozacâ, liều uống 20 mg/kg). Bột chiết Sâm Triều tiên (liều uống 100 mg/kg) chưa thể hiện tác dụng ức chế sự gia tăng mức độ trầm cảm do stress cô lập.</p>
<figure id="attachment_1423" aria-describedby="caption-attachment-1423" style="width: 600px" class="wp-caption aligncenter"><img fetchpriority="high" decoding="async" class="wp-image-1423 size-full" src="https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/tac-dung-cua-sam-ngoc-linh-giup-lay-lai-can-bang-cho-co-the.jpg" alt="tác dụng của sâm ngọc linh" width="600" height="367" title="Cà phê sâm ngọc linh 1" srcset="https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/tac-dung-cua-sam-ngoc-linh-giup-lay-lai-can-bang-cho-co-the.jpg 600w, https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/tac-dung-cua-sam-ngoc-linh-giup-lay-lai-can-bang-cho-co-the-300x184.jpg 300w" sizes="(max-width: 600px) 100vw, 600px" /><figcaption id="caption-attachment-1423" class="wp-caption-text">Thử nghiệm tác dụng chống trầm cảm trên lá sâm Ngọc Linh Kon Tum Việt Nam</figcaption></figure>
<p>Majonoside-R2 (liều tiêm phúc mô 12,5 mg/kg) thể hiện tác dụng ức chế sự gia tăng mức độ trầm cảm gây ra do stress cô lập, tương tự như các thuốc chống trầm cảm điển hình Desipramine (thuộc nhóm tricyclic, 20 mg/kg) và Fluoxetine (thuộc nhóm ức chế thụ thể serotonin, 30 mg/kg.</p>
<p>Thực nghiệm khảo sát tác dụng của Sâm Việt nam trên sự suy giảm khả năng thực bào do các stress tâm lý: stress cô lập (isolation stress) và stress tâm lý sử dụng hộp truyền tin giao tiếp (communication box)</p>
<p>Stress tâm lý làm giảm khả năng thực bào in vivo của đại thực bào. Majonoside-R2 (10 mg/kg) và thuốc đối chiếu zymosan-A (30 mg/kg), được tiêm phúc mô 5 ngày trước thực nghiệm, có tác dụng dự phòng sự suy giảm khả năng thực bào gây bởi stress tâm lý.</p>
<p>Tóm lại, Sâm Ngọc Linh cũng như hoạt chất majonoside-R2 thể hiện tác động gia tăng chỉ số thực bào ở cơ địa súc vật bình thường và cơ địa súc vật bị suy giảm miễn dịch gây bởi stress tâm lý. Sơ bộ xác định cơ chế tác động của Sâm Việt nam như sau:</p>
<ul>
<li>Tác dụng kích thích hoạt động của hệ thống lưới nội sinh chất (reticuloendothelial system) của Sâm Việt nam. Hệ thống lưới nội sinh chất giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì sự hằng định nội môi và sự miễn dịch không đặc hiệu của sinh vật .</li>
<li>Sự tương quan giữa hệ thần kinh TW và hệ miễn dịch trong các bệnh lý suy giảm miễn dịch gây bởi stress là cơ sở cho tác động dự phòng của Sâm Việt nam trên sự suy giảm miễn dịch gây bởi stress. Tác dụng của Sâm Ngọc Linh chống stress và tăng lực trong đó hoạt chất majonoside-R2 đã được xác định như một chất tác động chủ vận lên hệ thống GABA-A của hệ thần kinh TW để tham gia vào quá trình điều hòa những rối loạn gây bởi stress.</li>
</ul>
<p>Tác giả: <em>(GS. Hiroshi Watanabe, PGS. Kinzo Matsumoto, TS. Nguyễn thị Thu Hương) Trung Tâm Sâm và Dược liệu TP. HCM-Viện Dược liệu.</em></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://samngoclinh.com/tac-dung-cua-sam-ngoc-linh-chong-lai-benh-tram-cam/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
		<post-id xmlns="com-wordpress:feed-additions:1">1422</post-id>	</item>
		<item>
		<title>Thủ tướng: Đưa ‘quốc bảo’ sâm Ngọc Linh thành quốc kế dân sinh</title>
		<link>https://samngoclinh.com/thu-tuong-dua-quoc-bao-sam-ngoc-linh-thanh-quoc-ke-dan-sinh/</link>
					<comments>https://samngoclinh.com/thu-tuong-dua-quoc-bao-sam-ngoc-linh-thanh-quoc-ke-dan-sinh/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Café Sâm Ngọc Linh]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 08 Jun 2021 04:03:39 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Sâm Ngọc Linh]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn xuân phúc]]></category>
		<category><![CDATA[nhân sâm]]></category>
		<category><![CDATA[quốc bảo]]></category>
		<category><![CDATA[sâm ngọc linh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://samngoclinh.com/?p=1387</guid>

					<description><![CDATA[Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị đầu tư phát triển sâm Ngọc Linh Kon Tum và các dược liệu khác do UBND tỉnh Kon Tum phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Y tế tổ chức tại thành phố...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị đầu tư phát triển sâm Ngọc Linh Kon Tum và các dược liệu khác do UBND tỉnh Kon Tum phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Y tế tổ chức tại thành phố Kon Tum.</strong></p>
<figure id="attachment_1388" aria-describedby="caption-attachment-1388" style="width: 588px" class="wp-caption aligncenter"><img decoding="async" class="wp-image-1388 size-full" src="https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/nguyen-xuan-phuc-sam-ngoc-linh-2.jpg" alt="nguyễn xuân phúc sâm ngọc linh" width="588" height="375" title="Cà phê sâm ngọc linh 3" srcset="https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/nguyen-xuan-phuc-sam-ngoc-linh-2.jpg 588w, https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/nguyen-xuan-phuc-sam-ngoc-linh-2-300x191.jpg 300w" sizes="(max-width: 588px) 100vw, 588px" /><figcaption id="caption-attachment-1388" class="wp-caption-text">Bộ trưởng, Chủ nhiệm Đỗ Văn Chiến tham dự Hội nghị</figcaption></figure>
<p>Dự Hội nghị có các đồng chí: Mai Tiến Dũng &#8211; Ủy viên TW Đảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Nguyễn Xuân Cường &#8211; Ủy viên TW Đảng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT; Đỗ Văn Chiến &#8211; Ủy viên TW Đảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban dân tộc; Nguyễn Thị Kim Tiến &#8211; Bộ trưởng Bộ Y tế; Vũ Đại Thắng &#8211; Ủy viên dự khuyết TW Đảng, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng lãnh đạo các Bộ, ngành liên quan; lãnh đạo tỉnh Quảng Nam, Đăk Nông và Gia Lai; đại diện doanh nghiệp Hàn Quốc&#8230;.</p>
<p>Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, chúng ta phát triển ngành dược liệu, ngành thực phẩm chức năng dựa trên việc phát huy các giá trị tinh hoa mà trời đất đã ban tặng cho một quốc gia có 3/4 diện tích rừng núi, nơi đã sinh ra những bậc danh y như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông. Cho nên, việc phát triển ấy vừa là lịch sử, đồng thời cũng chính là sự khẳng định bản sắc và tinh thần dân tộc trong kỷ nguyên hội nhập.</p>
<p>Nhắc lại phát biểu tại Hội nghị dược liệu toàn quốc vào năm ngoái, Thủ tướng khẳng định, 63 tỉnh, thành phố đều có thể phát triển dược liệu với 5.000 loại cây, con, sinh vật biển, khoáng vật làm thuốc, không chỉ để chữa bệnh mà còn làm giàu.</p>
<h2>Xây dựng “Thánh địa sâm Ngọc Linh”</h2>
<p>Theo Thủ tướng, để đạt được tầm nhìn và mục tiêu này, còn rất nhiều công việc đòi hỏi chúng ta cần sớm hành động một cách nghiêm túc, bài bản, không để cho từng địa phương như Kon Tum, Quảng Nam hoạt động manh mún hoặc “tự bơi” trong triển khai chiến lược. “Cần nhớ rằng, nhân sâm Hàn Quốc, Triều Tiên có lịch sử nhiều năm, được xuất khẩu cách đây 1.500 năm và có sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Chính phủ Hàn Quốc”.</p>
<p>Thủ tướng lưu ý một số hướng đi và cách làm để phát triển ngành công nghiệp sâm Việt Nam nhanh và bền vững, trước hết, tập trung vào sâm Ngọc Linh.</p>
<p>Đầu tiên, cách tiếp cận trong phát triển phải đúng. Yêu cầu đối với cây sâm Ngọc Linh là phải vừa bảo tồn, vừa phát triển, bảo tồn để phát triển có chiều sâu, đạt giá trị cao hơn. Ở giai đoạn đầu cần định dạng chiến lược sản phẩm theo hướng phát huy các giá trị vượt trội và tính chất khác biệt của sâm Ngọc Linh so với các loại sâm và sản phẩm tương tự. Ví dụ chống ung thư, cải thiện chức năng gan, tim mạch, giảm bớt stress, các rối loạn tâm lý, trầm cảm, những chức năng độc đáo mà các loại sâm khác không sánh bằng hoặc không có.</p>
<p>Hướng mục tiêu phát triển cây sâm Ngọc Linh đến những giá trị cao hơn, không chỉ về mặt kinh tế mà còn đối với nền y học, góp phần cải thiện sức khỏe con người, ưu tiên trước hết cho người Việt Nam.</p>
<p>Tiếp theo, khi đạt được các điều kiện về sản lượng, quy mô, về sự công nhận thương hiệu sâm Ngọc Linh vượt khỏi biên giới Việt Nam, chúng ta cần có chiến lược đại chúng hóa, đa dạng hóa sản phẩm như cách Hàn Quốc đã làm. Phổ biến nhưng không có nghĩa là hạ thấp giá trị của sâm Ngọc Linh. Thay vào đó cần định vị sâm Ngọc Linh ở phân khúc cao cấp.</p>
<p>Thủ tướng nêu rõ, bảo vệ nguồn gene thuần chủng là tối quan trọng. Là nơi tìm ra <a href="https://samngoclinh.com/phan-biet-sam-ngoc-linh-nhan-sam-sam-my-tam-that/">sâm Ngọc Linh</a> đầu tiên và cũng là nơi sinh trưởng tốt nhất cho sâm Ngọc Linh, <a href="https://samngoclinh.com/vuon-sam-tot-nhat-the-gioi-tren-nui-ngoc-linh/">núi Ngọc Linh</a> được xem là “Thánh địa của sâm Ngọc Linh”. Cần làm tốt chức năng chỉ dẫn địa lý cho sâm nhằm bảo hộ sản xuất và làm tăng giá trị của sâm Ngọc Linh.</p>
<p>Cần nghiên cứu tìm hiểu thêm về giá trị lịch sử của sâm Ngọc Linh bởi vì dù được phát hiện muộn vào thập niên 70 của thế kỷ trước (là loại sâm thứ 20 được tìm thấy trên thế giới) nhưng điều này không có nghĩa là cây sâm Ngọc Linh mới chỉ xuất hiện trên Trái đất vài chục năm trước. Việc có một lịch sử rõ ràng và nếu có thể tìm ra giai thoại về sâm Ngọc Linh sẽ làm tăng giá trị đáng kể cho sâm (nhưng phải tránh những giai thoại hoang đường).</p>
<h2>Tự tin tham gia sân chơi toàn cầu</h2>
<p>“Tôi nhấn mạnh lại, đó là niềm tự hào dân tộc khi từ những tinh hoa của đất mẹ, chúng ta có thể tìm ra những sản phẩm phục vụ sức khỏe con người, được sự tin dùng của quốc tế bởi những giá trị độc đáo, hứa hẹn đem đến cho chúng ta lợi thế cạnh tranh về chất lượng so sánh với cả những nước có trình độ phát triển cao hơn Việt Nam. Điều này vô cùng đặc biệt, vừa là thách thức, đồng thời là niềm cảm hứng kiến tạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ”. Theo Thủ tướng, đây chính là thông điệp đầu tiên ông muốn chuyển tải đến Kon Tum, Quảng Nam và nhiều địa phương khác, đồng thời cũng là thông điệp về niềm tự hào của ngành dược liệu toàn quốc, cho tất cả những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có liên quan.</p>
<p>Kể lại chuyến thực địa đầy ấn tượng tới núi Ngọc Linh vào hôm qua, Thủ tướng bày tỏ một Kon Tum không chỉ giàu về bản sắc văn hóa mà rất giàu về tiềm năng cây dược liệu, đặc biệt là Sâm Ngọc Linh. Đó là món quà núi rừng linh thiêng đã ban tặng cho con người.</p>
<blockquote><p>Có thể nói Sâm Ngọc Linh còn quý hơn vàng vì ngoài những giá trị về sức khỏe, còn ẩn chứa những tiềm năng kinh tế to lớn, đồng thời là cơ hội để khẳng định niềm tự hào dân tộc, tương tự như người Hàn Quốc đã làm với nhân sâm. Thủ tướng cho biết, theo các nghiên cứu gần đây, thân rễ và rễ củ sâm Ngọc Linh Việt Nam có chứa đến 52 hợp chất saponin có tính kháng khuẩn, kháng ung thư, a-xít béo&#8230;, trong đó một nửa (26) hợp chất saponin có ở sâm Triều Tiên, sâm Mỹ, sâm Nhật, sâm Trung Quốc; còn lại 26 hợp chất <a href="https://samngoclinh.com/saponin-la-gi-tac-dung-cua-saponin-doi-voi-suc-khoe/">saponin</a> có cấu trúc mới không có trong các loại sâm khác.</p></blockquote>
<p>Thủ tướng đến Kon Tum với niềm tin chúng ta có thể đưa “quốc bảo” sâm Ngọc Linh thành “quốc kế dân sinh”, là hy vọng mới của Việt Nam trong ngành dược liệu và thực phẩm chức năng, hiện là lĩnh vực cạnh tranh quyết liệt giữa những quốc gia tiên tiến như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ và cả Trung Quốc…</p>
<p>Theo Thủ tướng, quốc kế dân sinh còn là việc bảo tồn, giữ gìn sự quý hiếm của sâm cũng như tạo ra nhiều sản phẩm, chế phẩm từ sâm Ngọc Linh, giải quyết nhiều việc làm và thu ngân sách cho các tỉnh sản xuất, tiêu thụ sâm Ngọc Linh. “Đông người được hưởng, đó là quốc kế dân sinh”.</p>
<blockquote><p>“Giữ gìn quốc bảo là giữ một vật quý hiếm nào đó ở trong tủ kính, giữ gìn mãi. Nhưng từ quốc bảo ra quốc kế dân sinh để người dân được hưởng lợi là tinh thần, tư tưởng để chúng ta làm”, Thủ tướng nói.</p></blockquote>
<p>Thủ tướng lưu ý, dược phẩm, thực phẩm chức năng từ trước đến nay là sân chơi của các ông lớn &#8211; các cường quốc kinh tế và khoa học công nghệ như Trung Quốc, nhóm OECD hoặc G7, G20, do vậy chúng ta chỉ cạnh tranh thành công khi xác định được các lợi thế vượt trội, biến &#8220;quốc bảo&#8221; thành &#8220;quốc kế dân sinh&#8221;. Lý do Thủ tướng đến Kon Tum lần này chính là bởi tỉnh có một trong những lợi thế quan trọng là sâm Ngọc Linh. Nếu kết hợp với đẳng sâm cùng với các siêu dược liệu ở các vùng, miền khác như nấm lim xanh, các loại sâm núi ở Hoàng Liên Sơn, ở Nghệ An, các loài dược liệu quý ở Tây Nguyên, Tây Bắc… chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra một ngành dược liệu hết sức phong phú, đủ quy mô để cạnh tranh khu vực và toàn cầu nếu biết gìn giữ, bảo tồn, phát triển, đồng thời biết bào chế, phát triển sản phẩm một cách thông minh và phù hợp với xu thế tiêu dùng, đặc biệt là ở những nước tiên tiến.</p>
<p>Rõ ràng, bài toán lớn đặt ra là làm sao cộng hưởng những tinh hoa trời đất ban tặng này nhằm tạo ra những &#8220;đột phá chiến lược&#8221; trong việc bồi bổ sức khỏe, điều trị các bệnh nan y mà nhân loại đang gặp phải, từ đó, đưa ngành dược liệu và thực phẩm chức năng của Việt Nam tham gia vào sân chơi toàn cầu một cách chủ động và tự tin.</p>
<p>Với tiềm năng sản phẩm, thị trường và giá trị của sâm Ngọc Linh, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để phát triển một ngành công nghiệp trồng và chế biến sâm Ngọc Linh thực thụ của Việt Nam. Mục tiêu không phải là một vài chục tỷ đồng sau mỗi phiên chợ mà phải tiến tới mục tiêu tỷ đô-la giá trị sản xuất và xuất khẩu trong những thập niên tới. Điều này hoàn toàn khả thi nếu nhìn vào dự báo thị trường nhân sâm quốc tế với mức tăng trưởng rất cao.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h2>Mong muốn trở thành cường quốc nhân sâm</h2>
<blockquote><p>“Vốn và công nghệ là quan trọng, nhưng đối với sâm Ngọc Linh thì đất và rừng là hai yếu tố không thể thay thế. Người dân có đất và giữ rừng phải được hưởng lợi xứng đáng. Người dân, doanh nghiệp và chính quyền cần hiệp đồng chặt chẽ để giữ rừng, bởi nếu mất rừng thì không còn sâm Ngọc Linh”, Thủ tướng bày tỏ.</p></blockquote>
<p>Nhân dịp này, Thủ tướng nêu một số khuyến nghị dành cho tỉnh và giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành Trung ương.</p>
<p>Muốn đánh thức tiềm năng dược liệu giàu và giá trị của mình, Kon Tum nên chủ động chuyển mình nhanh chóng để trở thành vùng trồng, chế biến dược liệu tập trung của quốc gia, coi đó thực sự là một lĩnh vực mũi nhọn chiến lược cần đặc biệt ưu tiên phát triển.</p>
<p><img decoding="async" class="aligncenter wp-image-1389 size-full" src="https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/nguyen-xuan-phuc-sam-ngoc-linh.jpg" alt="nguyễn xuân phúc sâm ngọc linh" width="475" height="314" title="Cà phê sâm ngọc linh 4" srcset="https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/nguyen-xuan-phuc-sam-ngoc-linh.jpg 475w, https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/nguyen-xuan-phuc-sam-ngoc-linh-300x198.jpg 300w" sizes="(max-width: 475px) 100vw, 475px" /></p>
<p>Thủ tướng đồng ý tỉnh Kon Tum nghiên cứu lập Đề án hình thành khu công nghiệp sản xuất, chế biến dược liệu tập trung với quy mô lớn. Các Bộ: Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Khoa học và Công nghệ, Tài nguyên và Môi trường, Công Thương&#8230; cử cán bộ, chuyên gia giúp Kon Tum sớm hoàn thành Đề án và trình phê duyệt. Trong đó cần rà soát, nghiên cứu kỹ lưỡng, thận trọng, toàn diện các mặt, bảo đảm hiệu quả và khả thi. Thủ tướng đồng ý cho Kon Tum thực hiện thí điểm sử dụng môi trường rừng, đất dưới tán rừng để trồng dược liệu, tuy nhiên phải bảo đảm nghiêm ngặt việc duy trì, bảo vệ môi trường rừng.</p>
<p>Theo Thủ tướng, loài sâm này sẽ không chỉ là quốc bảo mà tỉnh Kon Tum cùng với Quảng Nam được trời đất ban tặng; trên thực tế chính sâm Ngọc Linh sẽ tạo ra một đòn bẩy du lịch và một sức mạnh truyền thông mới, đưa hai địa danh Quảng Nam, Kon Tum và rộng hơn nữa là Việt Nam được quốc tế biết đến nhiều hơn nữa về những giá trị to lớn cần được khám phá. Sâm Ngọc Linh với ngành dược liệu Việt Nam cũng như một Sơn Đòong (Quảng Bình) với ngành du lịch cả nước. Sự thành công của sâm Ngọc Linh sẽ tạo tiếng vang lớn, mở đường cho nhiều nghiên cứu mới, tầm cỡ quốc tế về tiềm năng dược liệu Việt Nam nói chung.</p>
<p>Tại sao Hàn Quốc người ta gọi là đất nước nhân sâm? Bao giờ Việt Nam là đất nước có sâm Ngọc Linh quý hiếm? Bao giờ Việt Nam tham gia được vào nhóm các cường quốc nhân sâm? Một cường quốc cần có chiến lược và lộ trình bao nhiêu năm, bước đi như thế nào?… Thủ tướng cho rằng, các bộ, ngành chức năng, tỉnh Kon Tum, Quảng Nam cần sớm cùng nhau tìm lời giải cho những câu hỏi này.</p>
<h2>Không để vàng thau lẫn lộn</h2>
<p>Chúng ta cần phải bảo hộ được giá trị thương hiệu sâm Ngọc Linh trên các thị trường quốc tế cũng như ở các nước. Đây là thương hiệu quốc gia Việt Nam chứ không đơn thuần là thương hiệu của một sản phẩm thuần túy hay của doanh nghiệp. Tận dụng các điều kiện của cách mạng công nghiệp 4.0 trong nuôi trồng, chế biến, phát triển sản phẩm. Đồng thời, truyền thông mạnh mẽ các giá trị độc đáo của sâm Ngọc Linh, coi đây là bước đột phá cho sự phát triển của ngành dược liệu và thực phẩm chức năng, đem lại cho Việt Nam khả năng đối trọng với các cường quốc tiên tiến như Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc…</p>
<p>Việc di thực sâm Ngọc Linh cần hết sức cẩn trọng, được các cơ quan chức năng giám sát chặt chẽ. Việc mở rộng trồng và chế biến sâm Ngọc Linh trước hết được tiến hành ở núi Ngọc Linh. Tuy nhiên, phải bảo đảm chất lượng sâm, hàm lượng saponin cũng như các hoạt chất có trong sâm; mỗi sản phẩm nhân sâm phải là một sản phẩm chất lượng cao, được chế biến từ những củ sâm chất lượng tốt nhất, tinh túy nhất. Nếu mở rộng tới mức suy giảm hàm lượng thì cũng phải thông tin rất rõ ràng, chính xác để khách hàng lựa chọn, đồng thời, không để vàng thau, thật giả lẫn lộn. Trước khi trồng cây sâm xuống đất, trước hết phải kiểm tra xem giống này lấy ở đâu. Không du nhập giống, không lai tạo để biến đổi gene, không cấy ghép và phải bảo tồn cho được giống quý sâm Ngọc Linh.</p>
<p>Tại Hội nghị, Thủ tướng kêu gọi các doanh nghiệp trong nước có tâm huyết, tầm nhìn và tiềm lực tham gia vào sứ mệnh phát triển sâm Ngọc Linh, đầu tư nghiên cứu, sản xuất, chế biến nhân sâm, phát triển ngành công nghiệp sâm bằng các chính sách ưu đãi và hỗ trợ có chọn lọc, đặc biệt khuyến khích các hình thức liên doanh liên kết để cùng nhau cộng hưởng sức mạnh.</p>
<p>Đồng thời, không nên ngần ngại khi có cơ hội liên kết với các tập đoàn đa quốc gia, tận dụng các điều kiện, những nền tảng sẵn có về nghiên cứu và phát triển, về marketing, về quản trị và thị trường để đi tắt ra thị trường cao cấp, qua đó, tạo ra sức lan tỏa nhanh chóng, <a href="https://vietbrands.vn" target="_blank" rel="noopener">xây dựng thương hiệu</a> <a href="https://samngoclinh.com/gioi-thieu-ve-sam-ngoc-linh-kon-tum/">sâm Ngọc Linh</a>, tạo cú hích cho việc phát triển quy mô trồng, sản xuất và chế biến sâm Ngọc Linh trong nước.</p>
<p>Phải xây dựng bằng được những doanh nghiệp hạt nhân, có đủ tiềm lực và sức mạnh để trở thành những nhà tiên phong, đưa thương hiệu sâm Ngọc Linh, với các chủng loại sản phẩm phong phú có khả năng cạnh tranh sòng phẳng với sản phẩm tương tự của Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản đang hiện diện trên sân nhà, đồng thời phải từng bước vững chắc vươn ra thị trường quốc tế.</p>
<p>Theo:<strong> cema.gov.vn</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://samngoclinh.com/thu-tuong-dua-quoc-bao-sam-ngoc-linh-thanh-quoc-ke-dan-sinh/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
		<post-id xmlns="com-wordpress:feed-additions:1">1387</post-id>	</item>
		<item>
		<title>Saponin là gì? Tác dụng của Saponin đối với sức khoẻ?</title>
		<link>https://samngoclinh.com/saponin-la-gi-tac-dung-cua-saponin-doi-voi-suc-khoe/</link>
					<comments>https://samngoclinh.com/saponin-la-gi-tac-dung-cua-saponin-doi-voi-suc-khoe/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Café Sâm Ngọc Linh]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 04 Jun 2021 05:09:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Sâm Ngọc Linh]]></category>
		<category><![CDATA[ginsenoside]]></category>
		<category><![CDATA[hồng sâm]]></category>
		<category><![CDATA[nhân sâm]]></category>
		<category><![CDATA[sâm cao li]]></category>
		<category><![CDATA[sâm Hàn Quốc]]></category>
		<category><![CDATA[sâm ngọc linh]]></category>
		<category><![CDATA[sâm triều tiên]]></category>
		<category><![CDATA[saponin]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://samngoclinh.com/?p=1041</guid>

					<description><![CDATA[Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng saponin là một trong những thành phần quan trọng thường có trong những loại thảo dược quý hiếm. Đặc biệt, saponin là hoạt chất chính góp phần tạo nên những tác dụng diệu kỳ của sâm Ngọc Linh đối với sức khỏe của con người. Samngoclinh.com sẽ cùng...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng saponin là một trong những thành phần quan trọng thường có trong những loại thảo dược quý hiếm. Đặc biệt, saponin là hoạt chất chính góp phần tạo nên những tác dụng diệu kỳ của sâm Ngọc Linh đối với sức khỏe của con người. Samngoclinh.com sẽ cùng bạn tìm hiểu saponin là gì, tác dụng của hoạt chất này và cách bổ sung saponin hiệu quả từ Samngoclinh.com nhé!</p>
<h2>Saponin là gì? Khái niệm về Saponin</h2>
<p>Saponin là glucosides với các đặc tính tạo bọt. Saponin bao gồm một aglycones polycyclic gắn liền với một hoặc nhiều chuỗi đường. Phần aglycone, còn được gọi là sapogenin, hoặc là steroid (C27) hoặc một triterpene (C30). Khả năng tạo bọt của saponin được gây ra bởi sự kết hợp của một chất kỵ nước (tan trong chất béo) sapogenin và một phần đường (hòa tan trong nước) ưa nước. Saponin có vị đắng. Một số saponin là chất độc và được biết đến như sapotoxin.</p>
<p>Ngoài ra hoạt chất saponin cũng có trong các loại nhân sâm nhưng lại có cấu tạo hóa học không giống với saponin có trong thực vật. Và để phân biệt điều này, các nhà khoa học đã đặt cho hoạt chất saponin ở nhân sâm một cái tên riêng biệt, đó là Ginsenoside.</p>
<figure id="attachment_1043" aria-describedby="caption-attachment-1043" style="width: 376px" class="wp-caption aligncenter"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-full wp-image-1043" src="https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/unnamed.png" alt="Saponin" width="376" height="307" title="Cà phê sâm ngọc linh 6" srcset="https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/unnamed.png 376w, https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/unnamed-300x245.png 300w" sizes="(max-width: 376px) 100vw, 376px" /><figcaption id="caption-attachment-1043" class="wp-caption-text">Saponin</figcaption></figure>
<p>Về mặt cấu trúc, saponin bao gồm một aglycones polycyclic gắn liền với một hoặc nhiều chuỗi đường.  Khả năng tạo bọt của saponin được tạo ra bởi sự kết hợp giữa một chất kỵ nước (tan trong chất béo) – sapogenin và một phần đường ưa nước (hòa tan trong nước).</p>
<p>Hoạt chất này là chất chủ yếu có trong các loại thảo mộc, như rau, đậu và các loại thảo dược. Các nguồn nổi tiếng nhất là đậu Hà Lan, đậu nành, và một số loại thảo mộc có tên chỉ ra tính chất tạo bọt như soapwort, saoproot, soapbark và soapberry. Hoạt chất này thương mại được chiết xuất chủ yếu từ Yucca schidigera và Quillaja saponaria.</p>
<blockquote><p><a href="https://samngoclinh.com/">Sâm Ngọc Linh</a> là sản phẩm giàu saponin quen thuộc với chúng ta.</p></blockquote>
<h2>Dược tính của Saponin</h2>
<h3>1. Định nghĩa</h3>
<p>Saponin còn gọi là saponosid là một nhóm glycosid lớn, gặp rộng rãi trong thực vật. Saponin cũng có trong một số động vật như  Hải sâm, Cá sao.</p>
<p><strong>Saponin có một số tính chất đặc biệt:</strong></p>
<ul>
<li>Làm giảm sức căng bề mặt, tạo bọt nhiều khi lắc với nước, có tác dụng nhũ hoá và tẩy sạch.</li>
<li>Làm vỡ hồng cầu ngay ở những nồng độ rất loãng.</li>
<li>Ðộc với cá vì hoạt chất này làm tăng tính thấm của biểu mô đường hô hấp nên làm mất các chất điện giải cần thiết, ngoài ra có tác dụng diệt các loài thân mềm như giun, sán, ốc sên.</li>
<li>Kích ứng niêm mạc gây hắt hơi, đỏ mắt, có tác dụng long đờm, lợi tiểu; liều cao gây nôn mửa, đi lỏng.</li>
<li>Có thể tạo phức với cholesterol hoặc với các chất 3-b-hydroxysteroid khác.</li>
<li>Hoạt chất này còn gọi là saponosid do chữ latin sapo = xà phòng (vì tạo bọt như xà phòng).</li>
<li>Tuy vậy một vài tính chất trên không thể hiện ở một vài saponin. Ví dụ: sarsaparillosid thì không có tính phá huyết cũng như tính tạo phức với cholesterol.</li>
<li>Có vị đắng trừ một số như glycyrrhizin có trong Cam thảo bắc, abrusosid trong Cam thảo dây, oslandin trong cây Polypodium vulgare có vị ngọt.</li>
<li>Tan trong nước, alcol, rất ít tan trong aceton, ether, hexan do đó người ta dùng 3 dung môi này để tủa saponin. Saponin có thể bị tủa bởi chì acetat, bari hydroxyd, ammoni sulfat.</li>
<li>Khó bị thẩm tích, người ta dựa vào tính chất này để tinh chế saponin trong quá trình chiết xuất.</li>
<li>Phần genin tức là sapogenin và dẫn chất acetyl sapogenin thường dễ kết tinh hơn saponin.</li>
<li>Saponin triterpenoid thì có loại trung tính và loại acid, saponin steroid thì có loại trung tính và loại kiềm.</li>
<li>Về mặt phân loại, dựa theo cấu trúc hoá học có thể chia ra: saponin triterpenoid và saponin steroid.</li>
</ul>
<h3>2. Cấu trúc hoá học</h3>
<h4><strong>2.1. Saponin triterpenoid:</strong></h4>
<p>Phần genin của loại này có 30 carbon cấu tạo bởi 6 nhóm hemiterpen. Người ta chia làm 2 loại: Saponin triterpenoid pentacyclic và saponin triterpenoid tetracyclic.</p>
<p><strong>Saponin triterpenoid pentacyclic:</strong> loại này chia ra các nhóm: olean*, ursan*, lupan*, hopan *.</p>
<p><strong><span style="text-decoration: underline;">Nhóm olean (I)</span></strong>: Phần lớn các saponin triterpenoid trong tự nhiên đều thuộc nhóm này. Phần aglycon thường có 5 vòng và thường là dẫn chất của 3-b hydroxy olean 12 &#8211; ene, tức là b-amyrin. Một vài aglycon  làm ví dụ (công thức A):</p>
<ul>
<li>Acid oleanolic: R1 = R2 = R4 = R5 = -CH3, R3 = -COOH.</li>
<li>Hederagenin:    R2 = R4 = R5 = -CH3 , R1 = -CH2OH , R3 = -COOH.</li>
<li>Gypsogenin:      R2 = R4 = R5  = -CH3 , R1 = -CHO , R3 = -COOH.</li>
</ul>
<p>Mạch đường có thể nối vào C-3 theo dây nối acetal, có khi mạch đường nối vào C-28 theo dây nối ester. Gần đây người ta phân lập được các saponin có đến 10-11 đơn vị đường nếu kể cả 2 mạch, riêng một mạch có thể đến 6 đơn vị đường.</p>
<p><strong><span style="text-decoration: underline;">Nhóm ursan (II)</span></strong>: Cấu trúc của nhóm ursan cũng tương tự như nhóm olean chỉ khác là nhóm methyl ở C-30  không đính vào vị trí C-20 mà lại đính ở vị trí C-19. Các sapogenin nhóm ursan thường là những dẫn chất của 3-b hydroxy ursan 12-ene, tức là a-amyrin. Những saponin của nhóm này ít gặp hơn nhóm olean. Cinchona glycosid A, Cinchona glycosid B có trong cây canh-ki-na, asiaticosid có trong rau má là những saponin của nhóm này.</p>
<p><strong><span style="text-decoration: underline;">Nhóm lupan (III)</span></strong>: Cấu trúc của nhóm lupan có các vòng A,B,C,D giống như các nhóm trên, chỉ khác vòng E là vòng 5 cạnh, C-20 ở ngoài vòng và thường có nối đôi ở vị trí 20-29. Lấy một ví dụ là saponin có trong rễ cây Ô rô Acanthus iliciformis Linn.: [a-L &#8211; arabinofuranosyl (1-4) b-D glucoropyranosid (1-3)]-3-b-hydroxy-lup-20(29) ene (IIIa).</p>
<p>Một số saponin có trong cây ngũ gia bì chân chim cũng thuộc nhóm này.</p>
<p><strong><span style="text-decoration: underline;">Nhóm hopan (IV)</span></strong>: Cấu trúc của nhóm hopan có các vòng A,B,C,D giống như các nhóm trên, chỉ khác vòng E là vòng 5 cạnh, C-22 ở ngoài vòng và nhóm methyl góc đính ở C-18 thay vì ở C-17. Saponin đầu tiên được biết là chất mollugocin A có trong cỏ thảm Mollugo hirta L.</p>
<p><strong>Saponin triterpenoid tetracyclic:</strong> có 3 nhóm chính: dammaran*, lanostan*, cucurbitan.</p>
<p><strong><span style="text-decoration: underline;">Nhóm dammaran (V)</span></strong>: Ðại diện là các saponin của Nhân sâm. Phần aglycon gồm 4 vòng và một mạch nhánh. Khi tác dụng bởi acid thì mạch nhánh đóng vòng tạo thành vòng tetrahydropyran. Bằng các phương pháp đặc biệt để cắt phần đường, người ta đã thu được các genin thật. Hai genin chính là: protopanaxadiol và protopanaxatriol.</p>
<p>Phần đường nối vào OH ở cabon số 3 hoặc có khi thêm 1 mạch nữa nối vào OH ở mạch nhánh.</p>
<p>Saponin triterpenoid tetracyclic nhóm damaran còn gặp trong Hạt táo (Ziziphus jujuba Mill.), Rau đắng biển (Bacopa monnieri (L.) Wettst.</p>
<p><strong><span style="text-decoration: underline;">Nhóm lanostan (VI)</span></strong>: Holothurin A, một trong những saponin có trong các loài Hải sâm &#8211; Holothuria spp. là một ví dụ của nhóm này.</p>
<p>Một nhóm phụ của nhóm lanostan là nhóm cycloartan có cấu trúc 9,19 cyclo (9b) lanostan. Các saponin  abrusosid A, B, C, D  có trong cam thảo dây Abrus precatorius là những saponin thuộc nhóm này.</p>
<p><strong><span style="text-decoration: underline;">Nhóm cucurbitan (VII):</span></strong> Phần lớn các saponin nhóm  cucurbitan gặp trong  họ Cucurbitaceae. Ở đây nhóm CH3 góc thay vì ở vị trí C10 lại đính ở C9.</p>
<p><strong>Saponin steroid:</strong></p>
<p><span style="text-decoration: underline;"><strong>Nhóm spirostan</strong></span>: Ta xét 3 chất sapogenin làm ví dụ: sarsasapogenin, smilagenin, tigogenin. Những chất này có 27 carbon như cholesterol, nhưng mạch nhánh từ C 20-27 tạo thành 2 vòng có oxy (16,22 và 22,26 diepoxy), một vòng là hydrofuran (vòng E) và một vòng là hydropyran (vòng F). Hai vòng này nối với nhau  bởi 1 carbon chung ở C-22. Mạch nhánh này được gọi là mạch nhánh spiroacetal.</p>
<p>Ba chất trên là 3 đồng phân. Smilagenin và tigogenin khác nhau do cấu hình ở C-5. Còn sarsasapogenin và smilagenin thì khác nhau do cấu hình ở C-25. Sarsasapogenin có nhóm methyl ở C-25 hướng axial có cấu hình tuyệt đối 25S, smilagenin thì nhóm methyl ở C-25 hướng equatorial có cấu hình tuyệt đối 25R.</p>
<p>Các sapogenin nhóm này có nối vòng C và D trans (khác với glycosid tim). Còn vòng A và B có thể là cis như ở chất sarsasapogenin và smilagenin hoặc có thể là trans như ở chất tigogenin. Công thức lập thể của 3 chất sarsasapogenin Smilagenin và tigogenin.</p>
<p>Nhóm OH ở C3 thường hướng b, một số hướng a ví dụ các saponin của tỳ giải.</p>
<p>Nhóm spirostan hiện nay được chú ý nhiều vì là nguồn nguyên liệu quan trọng để bán tổng hợp các thuốc steroid. Hai sapogenin quan trọng nhất là diosgenin (có chủ yếu trong các loài Dioscorea) và hecogenin (có chủ yếu trong các loài Agave).</p>
<p>Ở dạng glycosid phần đường được nối vào OH ở C-3, một số ít trường hợp ở C1. Mạch đường thường phân nhánh và phức tạp. Ví dụ digitonin là một saponosid  có trong cây digital, có mạch đường gồm 5 đơn vị đường và phân nhánh:</p>
<p><strong><span style="text-decoration: underline;">Nhóm furostan</span></strong>: Nhóm này có cấu trúc tương tự như nhóm spirostan chỉ khác là vòng F bị biến đổi. Trường hợp thứ nhất: vòng F mở và nhóm alcol bậc một ở C-26 được nối với đường glucose. Nếu glucose ở C-26 bị cắt (bởi enzym hoặc bởi acid) thì xảy ra sự đóng vòng F thành vòng hydropyran và chuyển thành dẫn chất nhóm spirostan. Ví dụ sarsaparillosid dưới tác dụng của enzym thủy phân cắt mạch glucose ở C-26 sẽ chuyển thành parillin.</p>
<p>Trường hợp thứ hai: vòng F là vòng 5 cạnh do sự đóng vòng 22-25 epoxy ví dụ avenacosid có trong Yến mạch  (Avena L). Họ Lúa (Poaceae)  Avenacosid A cũng có 2 mạch đường. Khi thủy phân cắt đường glucose ở C-26 thì cũng chuyển thành dẫn chất nhóm spirostan.</p>
<p>Sarsaparillosid và avenacosid A đều có 2 mạch đường. Người ta gọi đây là các bidesmosid (desmos = mạch).</p>
<p><strong><span style="text-decoration: underline;">Nhóm aminofurostan</span></strong>: Ở đây vòng F mở  như trường hợp sarsaparillosid nói ở trên nhưng ở vị trí C-3 đính nhóm NH2. Ví dụ jurubin, là saponin có trong Solanum paniculatum</p>
<p><strong><span style="text-decoration: underline;">Nhóm spirosolan</span></strong>: Nhóm này chỉ khác nhóm spirostan ở nguyên tử oxy của vòng F được thay bằng NH. Một điểm cần chú ý là ở đây có isomer ở C-22 (khác với nhóm spirostan). Ví dụ solasonin có trong cây cà Úc (= cà lá xẻ ) Solanum laciniatum có cấu trúc (25R) 22a  còn tomatin là các saponin có trong cây cà chua thì có cấu trúc (25S) 22b.</p>
<p><strong><span style="text-decoration: underline;">Nhóm solanidan</span></strong>: Solanin có trong mầm khoai tây thuộc nhóm này. Ở đây 2 vòng E và F cùng chung 1C và 1N.</p>
<p>Những chất thuộc 3 nhóm aminofurostan, spirosolan và solanidan đều có chứa N vừa mang tính alcaloid vừa mang tính glycosid nên được gọi là những chất glycoalcaloid.</p>
<p>Ngoài những nhóm saponin steroid kể trên người ta còn gặp một số saponin steroid có cấu trúc mạch nhánh khác ví dụ polypodosaponin và oslandin được Jizba phân lập 1971 từ thân rễ cây Polypodium vulgare L. Oslandin là một bidesmosid có vị ngọt. a-spinasterol glycosid có trong cây chè Camelia sinensis (L.) O. K.tze (Thea sinensis L.).</p>
<h3>3. Kiểm nghiệm Saponin</h3>
<p><strong>CÁC PHƯƠNG PHÁP  ÐỂ KIỂM NGHIỆM DƯỢC LIỆU CHỨA SAPONIN:</strong></p>
<p><span style="text-decoration: underline;"><strong>Dựa trên tính chất tạo bọt</strong></span>: Ðây là tính chất đặc trưng nhất của saponin do phân tử saponin lớn và có cùng một lúc một đầu ưa nước và một đầu kỵ nước. Người ta dựa trên hiện tượng gây bọt ở môi trường kiềm và acid để sơ bộ phân biệt saponin steroid và triterpenoid: lấy 1g bột nguyên liệu thực vật, thêm 5ml cồn, đun sôi cách thủy 15 phút.</p>
<p>Lấy 2 ống nghiệm cỡ bằng nhau, cho vào ống thứ nhất 5ml HCl 0,1 N (pH=1) vào ống thứ hai 5ml NaOH 0,1 N (pH=13). Cho thêm vào mỗi ống 2-3 giọt dung dịch cồn chiết rồi bịt ống nghiệm, lắc mạnh cả 2 ống trong 15 giây. Ðể yên, nếu cột bọt trong cả 2 ống cao ngang nhau và bền như nhau thì sơ bộ xác định trong dược liệu có saponin triterpenoid. Nếu ống kiềm có cột bọt cao hơn ống kia thì sơ bộ xác định là saponin steroid. Có thể dựa vào chỉ số bọt để đánh giá một nguyên liệu chứa saponin: chỉ số bọt là sốml nước để hoà tan saponin trong 1g nguyên liệu cho một cột bọt cao 1cm sau khi lắc và đọc (tiến hành trong điều kiện qui định). Cách tiến hành: cân 1g bột nguyên liệu (qua rây số 32), cho vào bình nón có thể tích 500ml đã chứa sẵn 100ml nước sôi, giữ cho sôi nhẹ trong 30 phút, lọc, để nguội và thêm nước cho đúng 100ml. Lấy 10 ống nghiệm có chiều cao 16 cm và đường kính 16 mm, cho vào các ống nghiệm lần lượt 1,2,3,&#8230;,10ml nước sắc, thêm nước cất vào mỗi ống cho đủ mỗi ống 10ml. Bịt miệng các ống nghiệm rồi lắc theo chiều dọc trong 15 giây, mỗi giây 2 lần lắc. Ðể yên 15 phút và đo chiều cao của các cột bọt. Nếu cột bọt trong các ống thấp dưới 1 cm thì chỉ số bọt dưới 100. Nếu ống có cột bọt cao 1 cm nằm giữa gam, ví dụ ống số 4 chẳng hạn thì tính như sau: ống này có 4ml nước sắc 1% tương ứng với 0,04g bột thì chỉ số là: 10&#215;1/0,04=250</p>
<figure id="attachment_1044" aria-describedby="caption-attachment-1044" style="width: 700px" class="wp-caption aligncenter"><img loading="lazy" decoding="async" class="wp-image-1044" src="https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/sam-ngoc-linh-cu-tuoi.png" alt="Saponin bên trong sâm ngọc linh" width="700" height="583" title="Cà phê sâm ngọc linh 7" srcset="https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/sam-ngoc-linh-cu-tuoi.png 960w, https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/sam-ngoc-linh-cu-tuoi-300x250.png 300w, https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/sam-ngoc-linh-cu-tuoi-768x640.png 768w, https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/sam-ngoc-linh-cu-tuoi-800x667.png 800w" sizes="(max-width: 700px) 100vw, 700px" /><figcaption id="caption-attachment-1044" class="wp-caption-text">Saponin bên trong sâm ngọc linh</figcaption></figure>
<p>Nếu chỉ số bọt nằm trong ống số 1, 2 thì cần pha loãng để có chỉ số nằm giữa gam.</p>
<p><span style="text-decoration: underline;"><strong>Dựa trên tính chất phá huyết</strong></span>: Ðây cũng là tính chất đặc trưng của saponin. Tuy nhiên cũng có một vài saponin không thể hiện rõ tính chất này. Khả năng phá huyết cũng khác nhau nhiều tùy loại saponin. Người ta cho rằng tính phá huyết có liên quan đến sự tạo phức với cholesterol và các ester của nó trong màng hồng cầu nhưng lại thấy rằng giữa chỉ số phá huyết và khả năng tạo phức với cholesterol có nhiều trường hợp không tỷ lệ thuận với nhau nên người ta cho rằng phải xét đến ảnh hưởng của saponin trên các thành phần khác của màng hồng cầu. Qua việc theo dõi tính phá huyết của saponin  người ta thấy rằng cấu trúc của phần aglycon có tác dụng trực tiếp đến tính phá huyết nhưng phần đường cũng có ảnh hưởng. Hồng cầu của các động vật khác nhau cũng bị tác động khác nhau đối với một saponin. Hồng cầu cừu dễ bị phá huyết nên dùng tốt, có thể dùng máu của súc vật có sừng khác, hoặc dùng máu thỏ thường dễ kiếm đối với các phòng thí nghiệm.</p>
<p>Ðể đánh giá một nguyên liệu chứa saponin, người ta dựa trên chỉ số phá huyết là số ml dung dịch đệm cần thiết để hoà tan saponin có trong 1g nguyên liệu gây ra sự phá huyết đầu tiên và hoàn toàn đối với một thứ máu đã chọn (tiến hành trong điều kiện qui định).</p>
<h4><strong>Cách tiến hành</strong></h4>
<p><span style="text-decoration: underline;"> Pha dung dịch đệm:</span></p>
<table width="420">
<tbody>
<tr>
<td width="211">Dung dịch mono kali phosphat</td>
<td style="text-align: center;" width="105">9,07%</td>
<td style="text-align: center;" width="104">28ml</td>
</tr>
<tr>
<td>Dung dịch dinatri phosphat</td>
<td style="text-align: center;">11,87%</td>
<td style="text-align: center;">162ml</td>
</tr>
<tr>
<td>NaCl tinh khiết</td>
<td style="text-align: center;" colspan="2">1,8 g</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><span style="text-decoration: underline;">Pha dung treo máu:</span></p>
<p>Ðể làm cho máu không đông thì phải loại fibrin bằng cách lấy 300ml máu súc vật có sừng mới cắt tiết cho vào bình 1 lít có miệng rộng, dùng đũa quấy tròn đều hoặc cho vào bình một ít bi thủy tinh và lắc tròn khoảng 10 phút, lọc qua gạc để loại fibrin, để tủ lạnh có thể dùng được vài ngày. Từ máu đã loại fibrin này đem pha thành dung treo máu 2% với dung dịch đệm. Có thể tiến hành chống đông máu và pha thành dung treo máu để làm thí nghiệm bằng cách khác như sau: Lấy 4,5ml máu thỏ trộn với 0,5ml dung dịch 3,65% Natri citrat rồi thêm 220ml dung dịch đệm.</p>
<p><span style="text-decoration: underline;">Pha dung dịch saponin:</span></p>
<p>Bột nguyên liệu đã rây qua rây 0,5 mm, cân chính xác 0,5 &#8211; 1 g, cho vào bình, thêm dung dịch đệm (50-100ml) rồi đặt lên nồi cách thủy (95-980C) trong 30 phút. Lọc rồi pha đến thể tích chính xác.</p>
<p><span style="text-decoration: underline;">Thử sơ bộ:</span></p>
<p>Pha các hỗn hợp theo bảng dưới đây:</p>
<table width="528">
<tbody>
<tr>
<td width="180">Ống (ml)</td>
<td style="text-align: center;" width="87">I</td>
<td style="text-align: center;" width="87">II</td>
<td style="text-align: center;" width="87">III</td>
<td style="text-align: center;" width="87">IV</td>
</tr>
<tr>
<td>Dung dịch chiết dược liệu</td>
<td style="text-align: center;">0,10</td>
<td style="text-align: center;">0,20</td>
<td style="text-align: center;">0,50</td>
<td style="text-align: center;">1,00</td>
</tr>
<tr>
<td>Dung dịch đệm</td>
<td style="text-align: center;">0,90</td>
<td style="text-align: center;">0,80</td>
<td style="text-align: center;">0,50</td>
<td style="text-align: center;">&#8211;</td>
</tr>
<tr>
<td>Dung dịch đệm</td>
<td style="text-align: center;">1,00</td>
<td style="text-align: center;">1,00</td>
<td style="text-align: center;">1,00</td>
<td style="text-align: center;">1,00</td>
</tr>
<tr>
<td></td>
<td style="text-align: center;" width="87">0,90</td>
<td style="text-align: center;">0,80</td>
<td style="text-align: center;">0,50</td>
<td style="text-align: center;">&#8211;</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Lắc nhẹ  ngay hỗn hợp (tránh tạo bọt). Sau 30 phút, lắc lại rồi để yên trong 6 giờ ở nhiệt độ phòng. Quan sát các ống và xác định ống (hoặc các ống) có hiện tượng phá huyết hoàn toàn, nghĩa là ống đỏ đều và trong, không có hồng cầu lắng đọng.</p>
<p>Nếu chỉ có ống IV có hiện tượng phá huyết hoàn toàn thì cứ dùng dung dịch dược liệu ban đầu, nếu ống III và IV có hiện tượng phá huyết hoàn toàn thì dùng dung dịch đệm để pha loãng gấp đôi (1:1), nếu cả 3 ống II, III, IV thì pha loãng gấp 5 (1+4), nếu cả 4 ống đều trong suốt và đỏ thì pha loãng dịch chiết dược liệu gấp 10 lần (1+9) và làm lại thí nghiệm sơ bộ từ đầu. Nếu trường hợp ngược lại, nghĩa là cả 4 ống đều không có hiện tượng phá huyết hoàn toàn thì tiến hành thử sơ bộ lại với dung dịch nguyên liệu đậm đặc hơn.</p>
<p>Thí nghiệm quyết định: Lấy 20 ống nghiệm nhỏ (còn gọi là ống phá huyết), đánh số thứ tự rồi cho vào mỗi ống lần lượt như sau: dung dịch chiết nguyên liệu theo thứ tự tăng dần: ống thứ nhất 0,05ml, ống thứ  hai 0,10ml,&#8230;, dung dịch đệm theo thứ tư giảm dần: ống thứ nhất 0,95ml, ống thứ hai 0,90ml,&#8230;, dung treo máu 2% mỗi ống 1ml. Sau đó lắc khẽ ngay để trộn đều. Sau 30 phút lắc lại 1 lần nữa. Sau 24 giờ thì đọc kết quả: tìm ống đầu tiên có hiện tượng phá huyết hoàn toàn, tính độ pha loãng của nguyên liệu trong ống đó. Chính độ pha loãng của ống này là chỉ số phá huyết của nguyên liệu. Có thể đọc kết quả sớm hơn bằng cách ly tâm 10 phút (1500 vòng/phút) sau khi đã để yên 2 giờ.</p>
<p><span style="text-decoration: underline;"><strong>Dựa trên độ độc đối với cá:</strong></span> Cá là động vật rất nhạy cảm với saponin nên người ta dùng các cây có saponin để thuốc cá (đừng nhầm với rotenon). Ðể đánh giá nguyên liệu chứa saponin, người ta có thể dựa vào chỉ số cá. Chỉ số cá cũng phải tiến hành trong những điều kiện quy định: môi trường, loại cá,&#8230;</p>
<p>D- Khả năng tạo phức với cholesterol: Những saponin triterpenoid tạo phức kém hơn loại steroid. Trong loại steroid thì digitonin kết hợp với cholesterol gần như hoàn toàn, do đó digitonin được dùng làm thuốc thử để định lượng cholesterol trong hoá sinh.</p>
<p><span style="text-decoration: underline;"><strong>Các phản ứng màu</strong></span>: Acid sulfuric đậm đặc hòa tan các saponin và cho màu thay đổi từ vàng, đỏ, lơ-xanh lá hay lơ-tím (phản ứng Salkowski).</p>
<ul>
<li>Saponin triterpenoid cho tác dụng với vanillin 1 % trong HCl và hơ nóng (phản ứng Rosenthaler) sẽ có màu hoa cà.</li>
<li>Saponin tác dụng với antimoin trichlorid trong dung dịch chloroform rồi soi dưới đèn phân tích tử ngoại thì saponin triterpenoid có huỳnh quang xanh còn saponin steroid thì vàng.</li>
</ul>
<p>Phản ứng Liebermann-Burchardt cũng hay dùng để phân biệt 2 loại sapogenin: lấy vài miligram sapogenin hoà nóng vào 1ml anhydrid acetic, cho thêm 1 giọt H2SO4 đậm đặc, nếu là dẫn chất steroid thì có màu lơ-xanh lá, còn dẫn chất triterpenoid thì có màu hồng đến tía.</p>
<p><span style="text-decoration: underline;"><strong>Sắc ký lớp mỏng</strong></span>: Chiết xuất và tinh chế sơ bộ saponin: đối với saponin trung tính và acid có thể tiến hành như sau:  bột dược liệu được chiết với ether dầu hỏa để loại chất béo rồi chiết saponin bằng methanol-nước (4:1). Loại methanol dưới áp suất giảm. Hoà cặn trong nước để có dung dịch 10% rồi lắc với n-butanol. Tách lớp n-butanol, bốc hơi butanol dưới áp suất giảm rồi hoà cặn với methanol để có dung dịch chấm sắc ký. Có thể tinh chế thêm bằng cách rót từ từ dung dịch methanol vào ether có lượng lớn gấp 10-15 lần (có khi dùng aceton hoặc hexan thay ether).</p>
<p>Saponin kiềm thuộc nhóm spirosolan và solanidan có thể chiết như sau: bột dược liệu thêm methanol đun nóng đến sôi trên nồi cách thủy. Dịch lọc đem bốc hơi đến khô trên nồi cách thủy. Cắn được hoà tan trong acid acetic 5%, đun nóng đến 800C rồi kiềm hoá bằng ammoniac. Tủa được ly tâm rồi hoà tan vào ethanol 96% để chấm sắc ký.</p>
<p>Sau đây là một vài hệ dung môi dùng để khai triển trên các bản mỏng silicagel-G.</p>
<p><span style="text-decoration: underline;">Saponin triterpenoid:</span></p>
<p>a) Chloroform-methanol-nước (65:35:10).</p>
<p>b) Ethyl acetat &#8211; acid acetic &#8211; nước (8:2:1).</p>
<p>c) n Butanol &#8211; ethanol (10:2).</p>
<p><span style="text-decoration: underline;">Saponin nhóm spirostan:</span></p>
<p>a) Chloroform &#8211; methanol &#8211; nước (65:35:10).</p>
<p>b) Chloroform &#8211; methanol (8:2).</p>
<p>c) n-Butanol bão hoà nước.</p>
<p><span style="text-decoration: underline;">Saponin kiềm: </span></p>
<p>a) Chloroform &#8211; ethanol -dd.ammoniac 1%/nước (2:2:1).</p>
<p>b) Ethanol-pyridin-nước (3:1:3).</p>
<p>Cách hiện màu: Dựa vào tính phá huyết bằng cách tráng một lớp gelatin-máu (hoà tan 5 g gelatin trong 100ml dung dịch NaCl 9%o ở 600C, khi nguội đến 400C thì thêm máu bò đã loại fibrin) hoặc phun dung treo máu 2% đã loại fibrin lên bản mỏng.</p>
<p>Các thuốc thử dùng cho các loại saponin và sapogenin nêu dưới đây sau khi phun cần phải sấy 10 phút ở 1100C rồi quan sát màu ở ánh sánh thường hoặc ánh sáng tử ngoại (365nm): thuốc thử Carr-Price (SbCl3 bão hoà trong chloroform), thuốc thử Liebermann-Burchardt (1ml H2SO4 + 20ml anhydrid acetic + 50ml chloroform), thuốc thử Salkowski (dung dịch acid sulfuric 10%-50% trong nước hoặc 5%-10% trong ethanol), acid phosphomolybdic 10% trong ethanol, acid phosphotungstic 20% trong ethanol, dung dịch acid phosphoric 50% trong nước, vanillin sulfuric (vanillin 1% trong cồn tuyệt đối 100ml + acid sulfuric 2ml).</p>
<p>Saponin nhóm spirostan còn có thể hiện màu bằng thuốc thử  Sannié (dung dịch vanillin 1% trong cồn (a), anhydrid acetic + H2SO4 12:1 (b), phun dung dịch (a) rồi sấy 1200C trong 3 phút sau đó phun dung dịch (b), vết saponin có màu vàng.</p>
<p>Ðối với nhóm spirostan và nhóm steroid alcaloid có thể dùng thuốc thử Carr-Price để phân biệt các dẫn chất có nối đôi và không có nối đôi ở vị trí C-5. Các dẫn chất D5 có màu đỏ ở 200C và tím đỏ sau khi sấy 1050C. Cũng có thể phân biệt 2 loại dẫn chất trên bằng thuốc thử Marquis (0,2ml dung dịch formaldehyd 37% trong nước + 10ml H2SO4), chỉ có loại D5 cho phản ứng.</p>
<p>Các saponin nhóm spirosolan và solanidan có thể phát hiện bằng thuốc thử Dragendorff.</p>
<p>Sắc ký đồ dịch chiết một số dược liệu chứa saponin (1) (2)</p>
<p><strong><span style="text-decoration: underline;">Ðịnh lượng:</span></strong></p>
<p>Phương pháp cân. Chiết saponin rồi cân. Cách tiến hành chiết như trình bày ở phần SKLM. Có khi người ta thủy phân saponin, phần sapogenin rất ít tan trong nước được lọc hoặc được hoà tan trong dung môi hữu cơ rồi đem bốc hơi dung môi hữu cơ, sấy, cân.</p>
<p>Phương pháp đo quang. Ðối với nhóm triterpenoid có thể dùng thuốc thử vanillin-sulfuric. Ví dụ định lượng acid glycyrrhetic trong cam thảo, phản ứng cho màu tím.</p>
<p>Ðối với nhóm spirostan, A. Akahori dùng aldehyd có nhân thơm + acid phosphoric để định lượng: 50 mg sapogenin + 500 mg anis aldehyd trong ethanol 99%, đun 10 phút ở 1000C để yên 1 giờ rồi đo mật độ quang ở 550 nm. Các dẫn chất  D5-sapogenin ví dụ diosgenin thì dùng thuốc thử FeCl3-H3PO4: 800mg FeCl3 trong 10ml nước (a), lấy 1ml (a) thêm đủ 50ml với H3PO4 (b). 50 mg diosgenin + 50ml (b) làm lạnh 5 phút trong nước đá, thêm 0,5ml H2SO4, làm lạnh 10 phút rồi đặt trong tủ sấy ở nhiệt độ 700C trong 9 phút. Sau khi làm lạnh 10 phút và để yên 60 phút đem đo ở 485 nm. Phương pháp này có thể dùng định lượng riêng biệt các sapogenin sau khi tách bằng sắc ký giấy hoặc sắc ký lớp mỏng.</p>
<p><strong><span style="text-decoration: underline;">Xác định bằng quang phổ</span></strong>: Các sapogenin triterpenoid trong H2SO4 đậm đặc có đỉnh hấp thu cực đại trong vùng tử ngoại ở 310 nm. Cực đại này không thể hiện với các saponin steroid.</p>
<p>Phổ hồng ngoại của các sapogenin steroid đặc biệt có 4 pic đặc trưng của mạch nhánh spiroacetal: pic thứ nhất ở 850 &#8211; 857 cm-1 đối với các chất 25 S hoặc 860 &#8211; 866 cm-1 đối với các chất 25 R. Pic thứ hai ở gần 900 (894-905), pic thứ ba ở gần 915 (915-923), pic thứ tư ở gần 980 (980-987). Ðể phân biệt sapogenin thuộc 25 R hoặc 25 S thì căn cứ vào cường độ hấp thu của pic thứ hai và pic thứ ba: các chất 25 R thì pic thứ hai có cường độ hấp thụ mạnh hơn pic thứ ba; đối với 25 S thì ngược lại.</p>
<h3>4. Chiết xuất</h3>
<p>Có nhiều quy  trình chiết xuất khác nhau. Ta có thể tiến hành theo quy trình như đã trình bày trong phần S.K.L.M. Ðể tinh chế, có thể thực hiện với các phương pháp sau:</p>
<ul>
<li>Thẩm tích.</li>
<li>Dùng bột Mg oxyd hoặc bột polyamid để tách saponin ra khỏi tanin: saponin được hoà vào nước rồi trộn với bột polyamid hoặc bột Mg oxyd trên nồi cách thủy 10 phút để có một khối nhão. Sau đó chiết saponin từ khối nhão này bằng ethanol 80% nóng. Lọc rồi bốc hơi.</li>
<li>Dùng Sephadex G-25,G-50,G-75: Lượng Sephadex dùng gấp 50 lần saponin đem ngâm nước cất cho trương lên, gạn lượng nước thừa, cho gel vào cột sắc ký.</li>
<li>Dung dịch đậm đặc saponin trong nước cho lên phần trên cột rồi khai triển bằng nước cất. Saponin có phân tử lớn sẽ ra khỏi cột trước saponin có phân tử nhỏ.</li>
<li>Bằng cách acyl hoá hoặc alkyl hoá các nhóm OH trong phân tử của các loại Sephadex nói trên, người ta chế được các loại Sephadex vừa có tính thân nước vừa có tính thân dung môi hữu cơ. Ví dụ từ Sephadex G-25 bằng cách alkyl hoá người ta thu được Sephadex LH-20 có khả năng hút được nước, alcol và cả chloroform. Loại này dùng để tách các saponin rất hiệu quả.</li>
<li>Ðể tinh chế saponin steroid có thể dùng phương pháp kết hợp với cholesterol: 1 g saponin hoà trong 200ml ethanol đun nóng đến 50-600C rồi cho tác dụng với một dung dịch chứa 2 g cholesterol trong 200ml ethanol đã đun nóng, tủa phức sẽ tạo thành. Sau khi nguội đem lọc tủa và sấy khô. Phá phức bằng cách hoà tan trong pyridin. Saponin tinh khiết sẽ được tủa trong ether. Ðể loại hết cholesterol, tủa được hoà tan trong methanol rồi lại tủa với ether.</li>
<li>Ðể tinh chế các dẫn chất nhóm glycoalcaloid, ta hoà tan chúng vào một ít n-butanol rồi cho lên cột chứa nhôm oxyd, đẩy ra bằng nước bão hoà n-butanol.</li>
</ul>
<h3>5. Tác dụng, công dụng</h3>
<ul>
<li>Saponin có tác dụng long đờm, chữa ho. Là hoạt chất chính trong các dược liệu chữa ho như viễn chí, cát cánh, cam thảo, thiên môn, mạch môn&#8230;</li>
<li>Một số dược liệu chứa hoạt chất này có tác dụng thông tiểu như rau má, tỳ giải, thiên môn, mạch môn,&#8230;</li>
<li>Hoạt chất này có mặt trong một số vị thuốc bổ như <a href="https://samngoclinh.com/sam-ngoc-linh-kon-tum/">sâm ngọc linh</a>, nhân sâm, tam thất và một số cây thuộc họ nhân sâm khác.</li>
<li>Làm tăng sự thấm của tế bào; sự có mặt của saponin sẽ làm cho các hoạt chất khác  dễ hoà tan và hấp thu, ví dụ trường hợp digitonin trong lá Digital.</li>
<li>Một số saponin có tác dụng chống viêm. Một số có tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm, ức chế virus.</li>
<li>Một số có tác dụng chống ung thư trên thực nghiệm.</li>
<li>Nhiều saponin có tác dụng diệt các loài thân mềm (nhuyễn thể).</li>
<li>Sapogenin steroid dùng làm nguyên liệu để bán tổng hợp các thuốc steroid.</li>
<li>Digitonin dùng để định lượng cholesterol.</li>
<li>Một số nguyên liệu chứa hoạt chất này dùng để pha nước gội đầu, giặt len dạ, tơ lụa.</li>
</ul>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-1042" src="https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/thanh-phan-chinh-cua-saponin-trong-hac-sam-han-quoc.jpeg" alt="Saponin bên trong nhân sâm" width="700" height="595" title="Cà phê sâm ngọc linh 8" srcset="https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/thanh-phan-chinh-cua-saponin-trong-hac-sam-han-quoc.jpeg 920w, https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/thanh-phan-chinh-cua-saponin-trong-hac-sam-han-quoc-300x255.jpeg 300w, https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/thanh-phan-chinh-cua-saponin-trong-hac-sam-han-quoc-768x653.jpeg 768w, https://samngoclinh.com/wp-content/uploads/2021/06/thanh-phan-chinh-cua-saponin-trong-hac-sam-han-quoc-800x680.jpeg 800w" sizes="(max-width: 700px) 100vw, 700px" /></p>
<h3>6. Sự phân bố trong thực vật</h3>
<p>Saponin steroid thường gặp trong những cây một lá mầm. Các họ hay gặp là: Amaryllidaceae, Dioscoreaceae, Liliaceae, Smilacaceae. Ðáng chú ý nhất là một số loài thuộc chi Dioscorea L.; Agave L.; Yucca L.</p>
<p>Saponin triterpenoid thường gặp trong những cây 2 lá mầm thuộc các họ như: Acanthaceae, Amaranthaceae, Araliaceae, Campanulaceae, Caryophyll-aceae, Fabaceae, Polygalaceae, Rubiaceae, Sapindaceae, Sapotaceae.</p>
<p>Trong cây saponin thường tích lũy ở những bộ phận khác nhau: tích lũy ở quả như Bồ kết, Bồ hòn; rễ như Cam thảo, Viễn chí, Cát cánh; lá như Dứa Mỹ&#8230;</p>
<h3>7. Tài liệu tham khảo</h3>
<ul>
<li>Bài giảng Dược liệu Tập I &#8211; 1998</li>
<li>Dược điển Việt Nam III.</li>
<li>Đỗ Tất Lợi &#8211; Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam 2003</li>
<li>Jean BRUNETON Pharmacognosy, Phytochemistry, Medicinal Plants &#8211; Technique &amp; Documentation &#8211; Lavoisier, 1995 (Translated by Caroline K. Hatton)</li>
<li>Д.А. Муравьева &#8211; Фармакогнозия &#8211; Москва &#8211; Медицина 1991</li>
<li>Яковлев Г.П (2013) Фармакогнозия лекарственное сырье растительного и животного происхождения. 3-е изд., испр. и доп. &#8211; СПб. : СпецЛит.</li>
</ul>
<h2>Tác dụng của saponin</h2>
<p>Saponin có nhiều lợi ích sức khỏe con người. Các nghiên cứu đã chứng minh chúng có tác dụng ngăn ngừa cholesterol xấu trong máu, ung thư, tăng cường sức khỏe của xương và kích thích hệ miễn dịch. Các tác động của hoạt chất này được đánh giá từ nguồn thực vật cụ thể và kết quả không thể được áp dụng cho saponin khác.</p>
<h3>Giảm Cholesterol</h3>
<p>Saponin ràng buộc với muối mật và cholesterol trong đường ruột. Muối mật hình thành các mixen nhỏ với cholesterol tạo thuận lợi cho sự hấp thụ của nó. Gây giảm cholesterol trong máu bằng cách ngăn chặn tái hấp thu của nó.</p>
<h3>Giảm nguy cơ ung thư</h3>
<p>Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hoạt chất này có tính chống ung thư và chống gây đột biến tế bào, có thể giảm nguy cơ ung thư ở người, bằng cách ngăn chặn tế bào ung thư phát triển. Saponin dường như để phản ứng với các tế bào giàu cholesterol của các tế bào ung thư. Do đó hạn chế sự tăng trưởng và khả năng tồn tại của các tế bào này. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn phát hiện saponin có thể giúp ngăn ngừa ung thư ruột kết (bài viết “Saponin như chống chất gây ung thư” xuất bản trên Tạp chí Dinh dưỡng (1995, 125, 717s-724s) của Mỹ). Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng saponin có thể gây ra apoptosis của bệnh bạch cầu tế bào bằng cách gây phân bào của các tế bào gây ung thư.</p>
<h3>Tăng cường khả năng miễn dịch</h3>
<p>Các saponin có thể chống lại nhiễm trùng bởi ký sinh trùng. Trong hệ tiêu hóa của người, saponin cũng giúp hệ thống miễn dịch chống lại và bảo vệ vi khuẩn, virus xâm nhập cơ thể.</p>
<h3>Chất chống oxy hóa</h3>
<p>Phần không đường của saponin cũng hoạt động trực tiếp như một chất chống oxy hóa, giúp làm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư và tim mạch.</p>
<h3>Giảm nguy cơ ung thư đại tràng</h3>
<p>Các cơ chế tương tự mà saponin có thể làm giảm cholesterol – liên kết với acid mật – thực sự có thể làm giảm nguy cơ ung thư ruột kết. Theo Viện Linus Pauling, một số axit mật thứ cấp thúc đẩy ung thư ruột kết. Vi khuẩn trong ruột sản xuất axit mật thứ cấp từ các axit mật chính. Bằng cách gắn vào acid mật chính, saponin làm giảm lượng acid mật thứ cấp mà vi khuẩn đường ruột có thể sản xuất, do đó làm giảm nguy cơ ung thư ruột kết.</p>
<p>Viện Linus Pauling cũng cho biết rằng, trong thí nghiệm dùng saponin làm thức ăn cho chuột trong phòng thí nghiệm, số lượng của các tổn thương tiền ung thư trong chuột được giảm hẳn. Một kết quả nghiên cứu được công bố vào năm 1995 tại “Dinh dưỡng và ung thư” ủ tế bào khối u ung thư ruột kết c ủa người trong 1 giờ và 48 giờ ở nồng độ khác nhau của saponin từ đậu nành và soapwort (một loại thảo dược), họ nhận thấy các saponin ức chế tăng trưởng tế bào khối u và hoạt động tế bào khối u giảm v à phụ thuộc vào nồng độ của saponin. Nồng độ saponin càng cao, tốc độ tăng trưởng tế bào ung thư và hoạt động của nó giảm càng mạnh.</p>
<h2>Thành phần và tác dụng đặc trưng của từng loại Saponin</h2>
<ul>
<li>Thành phần Saponin Ro:Có tác dụng phân giải rượu qua đó chống viêm gan và  phục hồi hư tổn gan.</li>
<li>Thành phần Saponin Rb1: Có thể kiềm chế hệ thống thần kinh trung ương vì vậy mà làm dịu cơn đau, khả năng bảo vệ tế bào gan.</li>
<li>Thành phần Saponin Rb2: Ngăn ngừa hạn chế  bệnh tiểu đường, phòng chống xơ cứng gan, và đẩy nhanh khả năng hấp thụ của tế bào gan.</li>
<li>Thành phần Saponin Rc: Làm dịu cơn đau, mặt khác làm tăng tốc độ tổng hợp protein.</li>
<li>Thành phần Saponin Rd: Tác dụng đẩy nhanh hoạt động của vỏ tuyến thượng thận.</li>
<li>Thành phần Saponin Re: Giúp bảo vệ gan rất tốt đặc biệt là khả năng làm tăng tốc độ tổng hợp của các tế bào tủy.</li>
<li>Thành phần Saponin Rf: Làm dịu cơn đau trong các tế bào não.</li>
<li>Thành phần Saponin Rg1:  Nâng cao tập trung hệ thần kinh và chống mệt mỏi, stress</li>
<li>Thành phần Saponin Rg2: Hạn chế sự gắn kết các tiểu cầu máu, phụ hồi trí nhớ.</li>
<li>Thành phần Saponin Rg3: Hạn chế quá trình chuyển giao ung thư và bảo vệ gan.</li>
<li>Thành phần Saponin Rh1: Bảo vệ gan,hạn chế  khối u, ngăn chặn gắn kết tiểu cầu máu.</li>
<li>Thành phần Saponin Rh2: Ức chế các tế bào ung thư và hạn chế khối u phát triển.</li>
</ul>
<h2>Hiểu sâu về tác dụng của Saponin đối với sức khỏe con người</h2>
<p>Saponin là một hoạt chát được tìm thấy trong nhiều loài thực vật và động vật thân mềm như Hải sâm, Sao biển. Kể từ phát hiện ra Saponin đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng hoạt chất này và đã khám phá những điểm rất thú vị. Và nếu bạn đang quan tâm tới tác dụng của Saponin đối với sức khỏe con người thì hãy cùng chúng tôi tìm hiểu ngay trong bài viết dưới đây nhé.</p>
<h3>1. Saponin ức chế sự phát triển của tế bào ung thư</h3>
<p>Một số nghiên cứu tiến hành trên in vitro và in vivo về đặc tính hỗ trợ chống ung thư của saponin. Kết quả các nghiên cứu in vivo đã công bố rằng nhân sâm (có chứa 2 – 4% saponin) có khả năng ức chế sự phát triển của các loại khối u khác nhau.</p>
<p>Bên cạnh đó, 2 nhà khoa học Trung Quốc là Rao và Sung đã quan sát thấy rằng saponin chiết xuất từ đậu nành đã ức chế sự phát triển của tế bào ung thư biểu mô đại tràng [1].</p>
<p>Nhận thấy lợi ích chống ung thư của saponin nên nhiều nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục đi sâu vào tìm hiểu cơ chế chống ung thư của saponin. Một số cơ chế được đề xuất về đặc tính chống ung thư của saponin như:</p>
<ul>
<li>Tác dụng gây độc trực tiếp tế bào ung thư.</li>
<li>Tăng cường hệ miễn dịch cho cơ thể người bệnh.</li>
<li>Điều hòa sự tăng sinh của tế bào trong cơ thể.</li>
<li>Một số saponin có tác dụng cụ thể chống ung thư đó chính là: acid betulinic, acid ursolic, acid oleanolic…</li>
<li>Saponin ức chế sự phát triển của tế bào ung thư</li>
</ul>
<h3>2. Làm giảm mỡ máu</h3>
<p>Thí nghiệm trên động vật và người, saponin đã được chứng minh là làm giảm nồng độ cholesterol có trong huyết tương ở chuột, thỏ và khỉ. Ở thỏ, chế độ ăn có chứa 1.0 – 1.2% saponin cho thấy làm giảm nồng độ cholesterol trong huyết tương và gan.</p>
<p>Hơn thế nữa, nhiều nhà khoa học cũng kết luận rằng với nồng độ cao của saponin có tác dụng ức chế sự hấp thu cholesterol cho cơ thể.</p>
<p>Tác dụng tương tự của saponin có nguồn gốc từ đậu nành cũng đã được chứng minh trên chuột và có tác dụng làm giảm nồng độ cholesterol có trong máu và gan ở chuột.</p>
<p>Không những vậy, các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy rằng có ít nhất 10 saponin triterpenoid có trong đậu nành có tác dụng giảm cholesterol.</p>
<p>Cơ chế của saponin trong việc giảm mỡ máu được giải thích là do các loại axit mật được hấp thụ bởi saponin. Nhờ đó, làm giảm bài tiết axit mật qua phân, sau đó được thay thế bằng sự tăng chuyển cholesterol thành axit mật của gan.</p>
<p>Bên cạnh đó, một số saponin còn tương tác trực tiếp với cholesterol để tạo thành phức hợp cholesterol – saponin, từ đó ức chế sự hấp thụ cholesterol từ ruột non.</p>
<p>Tuy nhiên, tác dụng của saponin đối với lipid huyết thanh còn phụ thuộc vào nguồn protein trong chế độ ăn uống của từng người.</p>
<p>Không những vậy, nhiều dẫn chất (tự nhiên hay bán tổng hợp) của các sapogenin steroid như tigogenin, diosgenin, hecogenin đã được chứng minh có tác dụng hạ cholesterol máu và chống xơ vữa động mạch, có chất còn tốt hơn cả cholesteramin.</p>
<h3>3. Bảo vệ gan</h3>
<p>Acid ursolic và oleanolic – 2 chất thuộc nhóm saponin có tác dụng bảo vệ gan chống lại các tác nhân gây tổn thương gan. Acid oleanolic đã bảo chế tại Trung Quốc làm thuốc chống các rối loạn ở gan dưới dạng viên uống.</p>
<p>Cơ chế bảo vệ gan của saponin có thể là do ức chế sự hoạt hóa chất gây độc cho gan và tăng cường chức năng bảo vệ cơ thể.</p>
<h3>4. Kháng khuẩn, kháng nấm</h3>
<p>Năm 2012, các nhà khoa học Hazem và các cộng sự đã báo cáo rằng saponin được chiết xuất từ phần trên mặt đất của loài Achillea Fragrantissima có tác dụng chống lại nhiều loại nấm như Aspergillus, Fusarium và Rhizopus.</p>
<p>Bên cạnh đó, vào năm 2016 các nhà khoa học đã phát hiện ra khả năng kháng nấm của saponin C-27 giúp chống lại một số loại nấm như: Candida albicans, C.glabrata, C. krusei, Cryptococcus neoformans và Aspergillus fumigatus.</p>
<h3>5. Chống viêm</h3>
<p>Patel và các cộng sự vào năm 2012 đã nghiên cứu khả năng chống viêm của saponin được phân lập từ lá cây củ cải đỏ. Theo kết quả của họ, saponin cho thấy khả năng chống viêm mạnh đối với tình trạng viêm cấp tính và mãn tính trên mô hình thí nghiệm.</p>
<p>Các nhà khoa học này đã chứng minh rằng các cơ chế hoạt động chống viêm của saponin có thể liên quan tới sự ức chế của prostaglandin và histamine.</p>
<p>Ngoài ra vào năm 2013, Yassin và các cộng sự đã phát hiện ra hoạt động chống viêm của saponin từ chiết xuất methanol của phần quả của loài Gleditsia caspica. Và họ đã được quan sát thấy rằng saponin có thể ức chế đáng kể sự tiến triển của viêm trong điều trị. Sau đó, các nhà khoa học đã chứng minh rằng tác dụng ức chế của saponin có thể là do sự ức chế enzyme cyclo-oxyase và sự ức chế tổng hợp prostaglandin.</p>
<p>Một số saponin có tác dụng chống viêm như glycyrrhizin trong Cam thảo, các saponin trong Ngưu tất…</p>
<h3>6. Một số tác dụng và công dụng khác</h3>
<ul>
<li>Saponin có tác dụng long đờm, saponin là hoạt chất chính trong các dược liệu chữa ho như Viễn chí, Cát cánh, Cam thảo, Thiên môn, Mạch môn…</li>
<li>Một số dược liệu chứa saponin có tác dụng thông tiểu như Rau má, Tỳ giải, Thiên môn, Mạch môn. Trên chuột cống cho thấy acid oleanolic và acid ursolic có tác dụng lợi tiểu – thải trừ natri, có lợi trong việc ngừa huyết áp cao.</li>
<li>Saponin có trong một số cây thuộc họ Nhân sâm có tác dụng bổ tăng lực ví dụ như Nhân sâm, Tam thất và một số loài khác.</li>
<li>Bên cạnh đó, Saponin còn có tác dụng làm tăng tính thấm của tế bào, sự có mặt của saponin sẽ làm cho các hoạt chất khác dễ hòa tan và hấp thu. Ví dụ như trường hợp digitonin trong lá Digitalis. Một số saponin được dùng làm chất tăng tính thấm trong vaccin.</li>
<li>Asiaticosid có trong Rau má có tác dụng làm thuốc chóng lên sẹo các vết mổ, vết thương, chữa loét, bỏng, eczema. Một số saponin thuộc cả triterpen và steroid có tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm, ức chế virus.</li>
<li>Nhiều saponin triterpenoid có tác dụng hạ đường huyết đã được chứng minh trên thực nghiệm. Acid oleanolic và acid ursolic cũng có tác dụng này.</li>
<li>Ruscogenin, sapogenin steroid chiết từ thân rễ cây Ruscus aculeatus có tác dụng làm bền vững tĩnh mạch, bảo vệ thành mạch</li>
</ul>
<p><em>(Trích bài giảng Dược liệu &#8211; Bộ Y tế)</em></p>
<h2>Saponin trong Sâm Ngọc Linh</h2>
<p>Saponin là thành phần hóa học chính của sâm Ngọc Linh. Saponin trong nhân sâm sản xuất một hợp chất hoạt động gọi là ginsenosides có trọng lợi ích với hệ thống thần kinh trung ương, hệ thống nội tiết, hệ thống miễn dịch, trao đổi chất,  và có hiệu lực khác nhau về chức năng điều hòa của cơ thể. Khi đi vào cơ thể, saponin sẽ giúp bạn làm sạch các mạch máu và các cơ quan khác nhau.</p>
<h2>Tại sao Sâm Ngọc Linh lại mang lại hiệu quả cao hơn nhân sâm</h2>
<p>Theo kết quả nghiên cứu từ năm 1978 của Bộ Y tế Việt Nam cho biết, đây là loại sâm thứ 20 được phát hiện trên thế giới. Phần thân, rễ của Sâm Ngọc Linh chứa 26 hợp chất saponin có cấu trúc hóa học đã biết và 24 saponin có cấu trúc mới không có trong các loại sâm khác, trong khi đó – sâm Triều Tiên chỉ có khoảng 25 loại.</p>
<blockquote><p>Những kết quả nghiên cứu, phân lập thành phần hóa học mới nhất được công bố còn kéo dài danh sách saponin của <em><strong>sâm Ngọc Linh</strong></em> hơn nữa, lên tổng cộng 52 loại. Như vậy, sâm Việt Nam là một trong những loại sâm có hàm lượng saponin nhiều nhất, tương tự một số cây sâm quý đã từng được nghiên cứu sử dụng từ lâu trên thế giới. Hợp chất hóa học đa dạng và tác dụng thực tiễn đối với sức khỏe của con người khiến sâm Ngọc Linh hiện nay được bán trên thị trường với giá càng ngày càng cao, thậm chí còn cao hơn sâm Triều Tiên nhiều lần.</p></blockquote>
<p>Theo các kết quả nghiên cứu còn cho thấy, sâm Ngọc Linh còn có tác dụng giúp tăng lực, phục hồi suy giảm chức năng, giúp cơ thể trở lại bình thường, kháng lại các loại độc tố gây hại cho tế bào, giúp tăng tế bào mới và kép dài sự sống của tế bào cũ. Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hàn lâm Khoa học và Công nghệ trên thế giới còn chứng minh được: Sâm Ngọc Linh là loại thảo dược vô cùng quý hiếm, nó còn cao hơn cả sâm Triều Tiên, sâm Trung Quốc.</p>
<p>Cũng qua quá trình này mà được sinh thêm các chất Ginsenoside. Các chất  Ginsenoside được tạo ra là do thành phần của nhân sâm bị phân hủy khi gặp nhiệt độ cao như: Chất làm giảm quá trình lão hóa (Maltol), hợp phần chất chống ung thư [chất làm giảm ức chế sự phát triển tế bào ung thư (Ginsenoside Rh2)], chất ngăn sự tái phát tế bào ung thư di căn và sự phát triển tế bào ung thư mới (Ginsenoside Rg3).</p>
<p>Nếu nhân sâm có chứa 24 loại saponin nhờ quá trình chế biến thì <a href="https://peerless.vn" target="_blank" rel="noopener">Sâm Ngọc Linh</a> chứa tới 52 loại. Chính vì có hàm lượng saponin cao nên Sâm Ngọc Linh có tác dụng tốt hơn đối với sức khỏe.</p>
<p><a href="https://samngoclinh.com/cong-dung-cua-cafe-sam-ngoc-linh/">Cafe Sâm Ngọc Linh</a> | <strong>Tổng hợp</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://samngoclinh.com/saponin-la-gi-tac-dung-cua-saponin-doi-voi-suc-khoe/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
		<post-id xmlns="com-wordpress:feed-additions:1">1041</post-id>	</item>
	</channel>
</rss>
